Bàn về nội hàm khái niệm "Tái cơ cấu kinh tế", "Phát triển nguồn nhân lực" và "Sự tương quan biện chứng" hiện nay (phần 1)

Đăng bởi: AdministratorIn
 

 

NCVCC, TS. Hồ Bá Thâm

 

TÓM TẮT:

 

Hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo yêu cấu nhu cầu tái cơ cấu kinh tế ở TPHCM” đặt ra vấn đề trước hết phải xác định rõ hơn hai khái niệm xuất phát: Phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) và tái cơ cấu kinh tế (TCCKT)” và giải nghĩa khái niệm “theo yêu cấu nhu cầu”, nghĩa là khái niệm tương quan của hai khái niệm của vấn đề trên. Qua việc làm rõ khái niệm hệ thống, cơ cấu hệ thống, tái cấu trúc nói chung đến các khái niệm nói trên và từ đó nêu lên ý nghĩa thực tiễn và lý luận của nó có giá trị phương pháp luận phức hợp hệ thống phức hợp khi nghiên cứu chủ đề hội thảo nói trên. Cho nên “giới thuyết khái niệm”, làm cho nó trở nên tường minh, xác định rõ ràng vấn đề nghiên cứu mô tả, tránh “ông nói gà bà nói vịt”, gây nên tranh luận không cần thiết.

 

I- KHÁI NIỆM CẤU TRÚC HỆ THỐNG VÀ TÁI CẤU TRÚC, CƠ CẤU HỆ THỐNG. TÍNH QUI LUẬT CỦA NÓ

 

Cơ cấu (cấu trúc) của bản thân sự vật, hiện tượng nói chung là có thể đơn giản hay phức tạp là tùy theo sự tiến hóa thấp cao của chúng. Những hệ thống phức tạp vốn có nhiều yếu tố ngang dọc và cùng với nó là các quan hệ chằng chịt với nhau, phối hợp, tương tác và tạo nên các qui luật nội tại của nó trong quan hệ với môi trường và ở quan hệ này cũng có qui luật của nó.

 

Chất lượng của bản thân sự vật phụ thuộc vào chất lượng của các yếu tố, số lượng yêu tố, các quan hệ tương tác - nhân quả nội ngoại của nó, phù hợp hay mâu thuẫn, thúc đẩy hay cản trở? Chính vì vậy, nếu phù hợp mà sự hợp trội của hệ thống bao giờ cũng lớn hơn tổng số chúng cộng lại, nhưng nêu mâu thuẫn cản trở hay lạc hậu thì nó tạo nên một lực nhỏ hơn cà số cộng của chúng.

 

Chất lượng của bản thân sự vật còn phụ thuộc vào chất lượng của môi trường tương tác của sự vật và môi trường không thòi gain của nó đang tồn tại và tương tác như thế nào?

 

Vấn đề là tất cả qaun hệ đôi nội ngoại ấy tạo nên động lực tiến bộ hay lực cản, mạnh yếu khác nhau thế nào, nó có hợp thời không, ở mức nào?

 

Bàn thân sư vật, hệ thống cũng luôn luôn biến đổi nội tại và thay đổi cùng thới cuộc, môi trường sống chính là tính thường biến của nó. Hệ thống là một hệ mâu thuẫn. Hệ thống kép kín sẽ suy tàn còn hệ ghống mở sẽ có tương lai. “Giải hệ thống” - “giải cấu trúc” chính là giải cái mâu thẫn hệ thống chuyển sang hệ thống mới hoặc ở trình độ mới. Hệ thống là hệ thống động và không chỉ xem xét cơ cấu, cấu trúc, mô hình mà còn xem xét nó như một tiến trình. Mà tiến trình tức là phi cấu trúc. Đó cũng là một khía cạnh của tư duy giải cấu trúc. Do vậy theo tư duy biện chứng không có gì mà vĩnh viễn mà tùy thời, tùy góc nhìn và sự biến đổi - tiến trình theo làn sóng phục hưng, thịnh, suy.

 

Do đó, đến lúc nào đó khi hệ thống rơi vào ngưng trệ, hay khủng hoảng thì đòi hỏi phải tái cấu trúc hệ thống, chuyển dịch cơ cấu, đổi mới - cải cách - cải tổ cơ cấu. Theo nghĩa rộng thì đó là những khái niệm đồng nghĩa. Điều đó có nghĩa là sắp xếp lại cấu trúc, loại bỏ cái gì không còn phù hợp, bổ sung yếu tố mới, thiết lập quan hệ mới, nhằm tạo ra cơ cấu mới, chất lượng mới. Phải tái cơ cấu (TCC) và đổi mới chứ không chỉ tăng thêm bớt đi về số lượng mà vẫn giữ cấu trúc cũ. Đụng đến cấu trúc/ cơ cấu (bản thể hay mô hình tồn tại, phát triển) là phức tạp hơn nhiều sự thay đổi tăng thêm số lượng nhân tố.

 

Khoa học hệ thống phức hợp[1] nghiên cứu các hệ thống sinh vật bậc cao, và hệ thống kinh tế xã hội cũng như chính trị, văn hóa hay cộng đồng người dù cấp độ địa phương, quốc gia hay quốc tế - toàn cầu là hệ thống hết sức phức tạp. Nhiều nhà khoa học đã vận dụng lý thuyết hệ thống để nghiên cứu các vấn đề nói trên.

 

Do vậy khi phân tích các vấn đề kinh tế xã hội cần phải nắn vững lý thuyết - phương pháp luận cấu trúc hệ thống phức hợp (CTHTPPH) dù là ở mức phổ cập nhất. Đây là PPL của khoa học thế kỷ 21.

 

II- QUAN NIỆM KHÁC NHAU VỀ TCCKT

 

Theo nhà nghiên cứu Tô Văn Trường: Trong từ điển bách khoa Việt Nam không tìm thấy nguyên nghĩa của từ tái cơ cấu kinh tế. Nếu mỗi người hiểu nó một cách khác nhau, và nếu vậy thì "biết đâu mà ...lần". Theo những thông tin không đầy đủ mà chúng tôi nhận được, thì anh chị em nghiên cứu kinh tế, xã hội có nhiều ý kiến khác nhau về tái cấu trúc nền kinh tế. Ví dụ có người hiểu đây là đợt mới của tiến trình đổi mới kinh tế và đất nước đáng lẽ đã phải đến sớm hơn. Có người hiểu tái cấu trúc nền kinh tế đòi hỏi điều kiện tiên quyết là đổi mới hệ thống chính trị. Có người hiểu tái cấu trúc nền kinh tế chỉ là một bộ phận, phải gắn bó chặt chẽ với toàn bộ công cuộc thay đổi mô hình phát triển đất nước trong thực trạng của nước ta và tình hình của thế giới ngày nay.

 

Theo Wikipedia "Tái cơ cấu (Reengineering) là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một số phần hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị nào đó". Có ý kiến cho rằng chữ tái cấu trúc, dịch từ tiếng Anh là restructuring, là chữ vô nghĩa về mặt lý thuyết kinh tế cũng như chính trị. Chữ này cũng vô nghĩa như chữ đổi mới. Chúng chỉ là khẩu hiệu thôi, cho nên ai đó đặt ra nó thì phải cho nó nội dung và mục tiêu. Ở đây chỉ bàn về vấn đề kinh tế. Đổi mới thật ra là đổi cũ, tức là đi về cái cũ, cái kinh tế thị trường ngàn xưa đã có.

 

Có ý kiến cho rằng tái cơ cấu là việc sắp xếp lại, điều tra, thẩm định, đánh giá lại cơ cấu của các mô hình kinh tế - xã hội, của các tổ chức; trong đó có các doanh nghiệp. Nội dung của tái cơ cấu doanh nghiệp quan tâm đến tính hệ thống và chuyên nghiệp trong phương thức xác định, thành lập loại hình, quy mô, tổ chức sản xuất, kinh doanh, các mối liên doanh, liên kết, các phương thức và kỹ năng điều hành, các định hướng và mục tiêu phát triển. Trong điều kiện hiện nay, tái cơ cấu đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi tư duy, mạnh dạn và chú trọng sáng tạo trong quản lý, cung cách điều hành, nghiệm thu và đúc kết. Tái cấu trúc lại các quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó định hình các loại hình và mô hình, cơ cấu tổ chức phù hợp với điều kiện và định hướng kinh doanh của doanh nghiệp. Qua đó, cần kịp thời xây dựng lại toàn bộ sơ đồ cơ cấu tổ chức, thậm chí thay đổi bề mặt và cả chiều sâu. Tái cơ cấu thường quan tâm đến việc xem xét các hệ thống lập kế hoạch kinh doanh, hệ thống quản trị chuỗi cung, maketing và thẩm định chuỗi cầu (quản trị quan hệ khách hàng), hệ thống quản trị nhân lực, hệ thống quản trị tài chính. Đúng ra nên gọi là “hoàn thiện hóa cơ cấu”, còn như gọi “tái cơ cấu “ không được đầy đủ nội dung, ý nghĩa này.

 

Theo chúng tôi (TVT) hiểu nếu chỉ xét cấu trúc (cơ cấu) của nền kinh tế, không hoặc chưa tính tới mục tiêu, vận hành và điều khiển, thì tái cấu trúc kinh tế (cấu trúc lại kinh tế) gồm những chiều cạnh cấu trúc lại như: Cấu trúc lại các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: đầu tư, sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng. Cấu trúc lại các thành phần kinh tế: khu vực nhà nước, khu vực tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư sản), khu vực tập thể, khu vực có vốn nước ngoài, khu vực cổ phần hóa. Nếu chỉ đặt trọng tâm vào tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (1 trong 3 trọng tâm của tái cơ cấu nền kinh tế lần này) là không đủ mà là vấn đề công khai, minh bạch trong quản lý các doanh nghiệp nhà nước và bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế.

 

Cấu trúc lại các yếu tố sản xuất: lực lượng lao động, đất đai và tài nguyên khác, tư liệu sản xuất, khoa học và công nghệ, tri thức (của kinh tế tri thức). Cấu trúc lại kinh tế trong nước và kinh tế đối ngoại. Cấu trúc lại các ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, cần chú ý các tổ hợp kinh tế lớn. Cấu trúc lại các vùng kinh tế. Cấu trúc lại khu vực kinh tế thực và khu vực kinh tế ảo (từ "ảo" không chuẩn, nhưng đã quen dùng). Cấu trúc lại kinh tế vi mô: các doanh nghiệp, các hộ.

 

Còn có thể có những chiều cạnh tái cấu trúc kinh tế khác nữa liên quan tới mục tiêu kinh tế, và vai trò, chức năng nhà nước. Tùy thực trạng kinh tế của từng nước trong từng thời gian (đối với kinh tế thế giớ́i cũng tùy thực trạng kinh tế thế giới trong từng thời gian) mà chọn tập trung vào những chiều cạnh tái cấu trúc kinh tế nào, trọng tâm là ở đâu, các biện pháp thực hiện và lộ trình thực hiện tái cấu trúc ra sao. Một điều rất quan trọng là xác định đúng lực lượng tiến hành tái cấu trúc kinh tế là lực lượng nào, gồm những ai, từng nhóm người có vai trò, trách nhiệm và công việc cụ thể ra sao.

 

Tái cấu trúc kinh tế là rất quan trọng và cấp bách: Không phải chỉ để chữa các khuyết tật mà phải có ý nghĩa quyết định là phát huy thế mạnh, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đáp ứng yêu cầu mới, làm bừng nở những khả năng mới. Tái cấu trúc trúc kinh tế phải gắn chặt chẽ với năng suất và chất lượng, nếu không tái cấu trúc hệ thống đào tạo nguồn lực thì cũng chỉ là nhất thời. Tái cấu trúc nền kinh tế chỉ thành công khi Đề án phải chứng minh được dân.

 

Chúng ta bàn đến tái cấu trúc nên kinh tế/ tái cơ cấu đầu tư. Muốn đầu tư đúng, hiệu quả trước hết phải tái cơ cấu hệ thống tổ chức vì với hệ thống tổ chức còn chưa phù hợp thì rất khó nói đến tái cơ cấu đầu tư. Lấy ví dụ thực tế vấn đề tái cơ cấu trong nông nghiệp (nghĩa rộng) trong Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn có Cục gồm hệ thống chân rết đến huyện xã, xong lại nhiều Cục hoạt động như Vụ vì chẳng có hệ thống. Mối quan hệ Tổng cục/Cục/Vụ cũng cần xử lý thấu đáo. Cần xem lại cơ cấu xuất khẩu: Đánh giá lại các ngành hàng xuất khẩu chủ lực, ai được trong việc xuất khẩu này, doanh nghiệp, Nhà nước hay người dân? Thực tế cho thấy doanh nghiệp là được lợi nhiều nhất, vì họ chỉ mua ngọn (sản phẩm) mà không hề tham gia vào quá trình sản xuất và người chịu thiệt thòi nhất vẫn là nông dân. Cần thay đổi tư duy về xuất khẩu: Không nhất thiết theo số lượng mà phải theo giá trị. Các nước đều hướng vào xuất khẩu nông sản chế biến sâu chứ không phải thô[2].

 

Nhìn chung chúng tôi nhất trí cơ bản vơi quan niệm của Tô Văn Trường về nội dung khái niệm TCCKT, nhưng có thể cần chú ý đến tình hợp trội của cơ cấu, tái cơ cấu hệ thống và trình bày ngắn gọn sau đây.

 

III- KHÁI NIỆM CCKT VÀTCCKT - VẤN ĐỀ CỐT LÕI

 

“Gần đây, ở Việt Nam ta xuất hiện nhiều cách hiểu khác nhau về “tái cấu trúc” nền kinh tế Việt Nam, và ngay cả cách thực hiện tái cấu trúc cũng là một vấn đề cần bàn…”[3] như nói ở trên.

 

Theo chúng tôi, nền kinh tế là một dạng cơ cấu (cấu trúc) phức tạp có nhiều yếu tố ngang dọc và cùng với nó là các quan hệ chằng chịt với nhau. Đó là quan hệ cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng, cơ cấu vi mô, trung mô, vĩ mô; cơ cấu chất - lượng - qui mô; cơ cấu nhân lực và cơ cấu vật chất khác của quá trình sản xuất, hoạt động kinh tế; cơ cấu đấu tư nhân tài vật lực, phân phối tài chính, vốn sản xuất, sản xuất và tái sản xuất; cơ cấu sản phẩm và cơ cấu đầu tư, hiệu quả đầu tư…; cơ cấu các thành phần kinh tế, các yếu tố trong quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất và hai mặt giữa chúng… Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, sớ lượng, chất lượng và đầu tư nguồn lực, khoa học công nghệ, nhân vật lực…[4].

 

Xét về mặt vận độmg và mâu thuẫn của cơ cấu kinh tế hiện nay sẽ thấy: đầu tư cao những năng suất lao động, thấp tăng trưởng và sản phẩm, hiệu quả kinh tế không cao; nền kinh tế năng về khai thác tài nguyên, và sức lao động giá rẻ, ít đầu tư khoa học công nghệ cao, và lao động có chất lượng cao; các ngành nghề có nhiều bất hợp lý như kinh tế nông nghiệp còn chiếm tỉ trọng cao; các vùng kinh tế nội và ngoại vùng chưa kết hợp chặt chẽ; đâu tư dàn trải, hoặc kém tập trung tạo nên đòn bẩy, đầu tư vốn nhà nước nhiều lãng phí, nợ công tăng cao và kém hiệu quả; sản xuất chạy theo qui mô, số lượng, thành tích chủ nghĩa, theo phong trào, không trọng chất lượng, năng suất, hiệu quả… Trong đó khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN) làm ăn thau lỗ, cấu trúc có nhiều bất hợp lý. Đó là những mâu thuẫn lớn của nên kinh tế khái thác với cơ cấu, cấu trúc lạc hậu, tụt hậu không phìu hợp với tiến trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế sâu rộng và trực tiếp hiện nay ở VN ta...

 

Cho nên, TCCKT trở nên tất yếu, bức thiết. Có nhiều việc phải làm, nhiều nội dung và mâu thuẫn phải giải quyết (trong đó, như Đảng và Nhà nước xác định là có ba nhiệm vụ trọng tâm nổi lên như: tái cấu trúc DNNN, TCT ngân hàng, TCT đầu tư công). TCCKT như vậy là vừa giải phóng các nguồn lực, triong đó có NNL, thay đổi và nâng cao chất lượng các yếu tố, các quan hệ, thêm bớt ra sao, xây dựng cơ chế vận hành và tạo động mới như thế nào, vừa thay đổi kết cấu, quan hệ, mô hình, mục tiêu sao cho TCCKT tạo nên trình độ mới của CCKT và tạo nên CCKT mới, mô hình tăng trưởng mới phù hợp các trình độ, nấc thang của nền kinh tế thị trường ngày càng hiện đại và tiến trình CNH, HĐH, hội nhập quốc tế (HNQT) cũng như nâng lực vận hành của các chủ thể kinh tế, và nền quả trị kinh tê quốc gia, trong đó phải TCT cả hệ thống nhà nước…(cả vai trò, nhiệm vụ, trách nhiệm, bộ máy, nhân sự).

 

Nhưng trọng tâm TCCKT nằm ở đâu? Ở các ngành, các vùng kinh tế hay cơ cấu dầu tư nguồn lực. Nhiều ý kiến nhân mạnh đó là thay đổi cơ cấu đầu tư nguồn lực là chính[5], trong đó trọng tâm là tăng nhanh yếu tố khoa học công nghệ tiến tiến, nhân lực chất lượng cao, điều chỉnh tạo nên CCKT tiên tiến hợp lý, phù hợp với quá trình chuyển sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu là chính, quá trình CNH, HĐH và HNQT nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế mở, đang chuyển đổi và chất lượng sống của người lao động (NLĐ)[6].

 

Mục tiêu chuyển đổi CCKT ấy là chung cho cả nội ngành, vùng, miền, tỉnh thành huyện quận…, vi mô - vĩ mô chứ không chỉ toàn bộ nền kinh tế quốc gia.

 

Điều sau đây cũng đáng suy nghĩ: “Suy cho cùng, ở nước ta chừng nào chưa đổi mới cơ chế tổ chức quản lý kinh tế xã hội thì hiệu quả thực tế của việc tái cơ cấu nền kinh tế vẫn còn là câu hỏi còn bỏ ngỏ chưa có lời giải đáp”[7]. Cần khắc phục tư duy cũ, cơ giới luận trong việc thực hiện TCCKT[8]. Vấn đề bay giờ là đổi mới tư duy và hành động[9]. Để giải quyết những khó khăn và hạn chế của nền kinh tế, thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững thì việc thực hiện chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế là một yêu cầu tất yếu và rất cần thiết trong giai đoạn 2011-2020. Rất nhiều giải pháp và công cụ chính sách sẽ phải được sử dụng, trong đó vai trò của hệ thống các chính sách về quản lý là rất quan trọng[10].

 

IV-KHÁI NIỆM PTNNL, TÁI CƠ CẤU NGUỒN NHÂN LỰC (TCCNNL)

 

PTNNL là khái niệm chỉ tăng thêm, nâng cao cả số lương, đặc biệt là chất lượng, qui mô, thay đổi cơ cấu NNL, cơ cấu lao động (CCLĐ) trong đó nhât là NNLCLC. PTNNL là phát triển cả thể lực, tri thức và phẩm chất đạo đức, năng lực, kỹ năng lao động, tác phong công tác cho phù hợp với nhu cầu TCCKT, chuyển đổi MHTT mới, CNH, HĐH đất nước.

 

Phương thức, hình thức PTNNL là thông qua đào tạo, bồi dưỡng ở nhà trường và cả trong thực tế lao động, cả bằng giáo dục và tự giáo dục, rèn luyện của ban thân người lao động, NNL… Sự phát triển NNL đó không chỉ là thể lực, tri thức, tay nghề mà cả kỹ năng lao động, kỷ năng sống và kỷ năng tự học, biết thay đổi và hoàn thiện bản thân.

 

NNL đang có những yếu kém, bất cập, đầu mâu thuẫn, như: có khi tăng qui mô những chất lượng NNL lại yếu, CCNNL chưa thích hợp; đào tạo nhiều, tràn lan, chạy theo số lượng mà thất nghiệp cũng lắm, thậm chí càng đại học hóa, nhưng coi thường đào tạo - học nghề nên càng thất nghiệp; hoặc tỉ lệ NNL được đào tạo và đào tạo nghề còn thấp; cơ cấu NNL bất hợp lý, NNCLC còn ít, có nhiêu ngành rất cần nhưng thiếu, thừa thầy thiếu thợ; giữa đào tạo và sử dụng còn vênh nhau; ngành thiếu ngành thừa[11], hoặc đào tạo nhiều tri thức, lý thuyết mà ít năng lực và kỹ năng thực hành; hoặc NNL chỉ phù hợp nội địa mà chưa thích ứng với ngoại địa, tức HNQT…Và nguy cơ NNL thua ngay trên sân nhà[12].

 

NNCLC là nguồn nhân lực có chất lượng tay nghề, kỷ năng lao động, đạo dức nghề nghiệp cao có khà năng tạo nên tạo nên sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên cơ sở lao động có năng suất, chất lượng hiệu quả cao. Các chỉ số bằng cấp chỉ là nhận biết bên ngoài, đầu tiên còn thực chất NNL này phải đo qua sản phẩm lao động và chất lượng quan hệ.

 

Như vậy, trong PTNNL, quan trọng nhất là NNLCLC, cần cả thay đổi, đổi mới thực hiện TCCNNL và TCC hoạt động giáo dục, đào tạo (TCTGD ĐT) một cách hợp lý nhất, tiến bộ nhất, tiến tiến nhất[13].

 

PTNNL đúng là vừa bao hàm cả TCCNNL và nâng cao chất lượng NNL, nhất là NNCLC thông qua quá trình đào tạo. bồi dưỡng và tự học tự rèn phợp lý. Kinh nghiệm thực tế cho hay việc tự học tự rèn luyện không những bố túc hiểu biết mà còn là quá trình biến khả năng, tri thức thành năng lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề, kỹ năng tự hoàn thiện bản thân. Nhà trường tạo ra nền tảng, tiền đề phương pháp luận, phương pháp biến tri thức thành kỹ năng đi tiếp trong đường đời, đường nghề về sau.

 

Nền kinh tế VN hiện nay, ít dựa vào NNLCLC. Hiện tại đóng góp vào tăng trưởng của Việt Nam do 3 nguồn lực chính, trong đó vốn đóng góp 52%, lao động đóng góp 22% và khoa học và quản lý đóng góp 26% (theo ông Nguyên Thiện Nhân). Một nền kinh tế mà chỉ dựa vào tài nguyên và lao động rẻ thì rất khó phát triển nhanh và bền vững. Không rõ cách tính như thế nào để có con số khoa học và quản lý đóng góp vào tăng trưởng của Việt Nam là 26%?[14].

 

“TÁI CƠ CẤU NGUỒN NHÂN LỰC ĐỂ VƯỢT QUA KHÓ KHĂN” là khẩu hiệu hành động của các doanh nghiệp hiện nay. Trong quá trình tái cấu trúc cần chú ý đặc biệt đến quá trình xây dựng đội ngũ nhân sự, nhà tuyển dụng thay vì “săn đầu người” thì nên tập trung đào tạo nguồn nhân lực nội tại, xác định những bộ phận có nhân lực dư thừa hoặc không cần thiết, xem xét lại năng lực nhân viên để điều chuyển, huấn luyện trở thành nhân viên kinh doanh hay đưa vào bộ phận đang thiếu, đang cần, tuyển nhân sự phù hợp với công việc thay vì tuyển nhân sự có năng lực vượt trội, mô tả công việc thật cụ thể cho nhân viên và kiểmsoát chặt chẽ quá trình làm việc thay vì kiểm soát đầu vào và đầu ra. Cần chú ý xây dựng lại đội ngũ, cách tổ chức nhân viên và tạo ra mối liên kết mật thiết giữa các nhân viên để họ sát cánh cùng nhau làm việc hiệu quả hơn, phải làm cho nhân viên thấu hiểu và thông cảm với tình hình hiện tại của công ty để họ ở lại và vẫn tin tưởng gắn bó[15]. Cần nghiêm túc nhìn nhận tái cơ cấu nguồn nhân lực (TCCNNL)[16]. Theo ông Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch VCCI, những DN nào biết “tái cơ cấu” lại nguồn lực - trong đó có việc tái cơ cấu nhân lực sẽ tìm kiếm được nhiều thành công hơn khi nền kinh tế đi vào ổn định[17]. (hết phần 1)

 

Lưu trữ

Sổ liên kết

Nguồn cấp tin

Viện nhân tài CHC

Đăng ký nhận tin
 
Tổng số lượt xem trang
3133649
Quạt trần cao cấp chính hãng, quạt trần trang trí động cơ mạnh mẽ, mẫu mã đẹp‎, tổng kho quạt trần