Bàn về nội hàm khái niệm "Tái cơ cấu kinh tế", "Phát triển nguồn nhân lực" và "Sự tương quan biện chứng" hiện nay (phần 2)

Đăng bởi: AdministratorIn

 

V- PTNNL “THEO NHU CẦU” (YÊU CẦU)…HAY “SỰ TƯƠNG QUAN BIỆN CHỨNG”. KHÔNG THỂ KHÔNG LIÊN QUAN TỚI CẢI CÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

 

Khi nói PTNNL theo nhu cầu, hay yêu cầu của TCCKT là xét nó trong quan hệ biện chứng giữa chúng. Nghĩa là TCCKT đặt ra những vấn đề cho việc PTNNL phải thay đổi, phải đáp ứng, thích ứng; và PTNNL phải phù hợp, tương thích với quá trình TCCKT, ĐMMHTT, thúc đẩu nó phát triển…

 

NNL vừa là nằm ngoài CCKT khi chưa được sử dụng, còn đang đào tạo (quan hệ bên ngoài giữa hai hiện tượng), nhưng NNL cũng là yếu tố nội tại của nền kinh tế CCKT khi nó được sử dụng. Xét về mặt này thì quan hệ NNL và CCKT là quan hệ bộ phận và toàn bộ, nhưng mang tính nội tại, trực tiếp. Đó là quan hệ nhân quả, quan hệ thống nhất mâu thuẫn, quan giữa khách thể và chủ thể… Đó cũng là quan hệ tương sinh, tương khắc, tương đồng, tương hợp, tương phát tạo nên sức mạnh tổng hợp của hệ thống KTXH.

 

Còn xét NNL chưa đào tạo, đang đào tạo với NNL đã đào tạo, đã, đang sử dụng thì đây là quan hệ trung giới của CCKT và cả TCCKT. Lúc này NNL đã, đang sử dụng tác dụng trực tiếp có ý nghĩa quyết định ít nhiều đến phát triển của nền kinh tế tùy theo chất lượng và cơ cấu đào tạo NNL đạt được như thế nào.

 

NNL là nhân tố quyết định bậc nhất của nên sản xuất và cũng có tác động quan trọng bậc nhất của đến NSLĐ, CLHQ sản xuất, kinh doanh[18]. Nhưng NNL cũng là mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh, nói chung của các hoạt động TCCKT. ĐMMHTT…

 

Do vậy nói PTNNL theo nhu cầu, yêu cầu TCCKT là không chỉ xét tương quan biện chứng giữa các nhân tố cấu thành nên kinh tế, TCCKT, tác nhân tác động và sự ăn khớp, hài hòa của chúng, mà còn phải chú ý, không thể quên điều sau đây: TCCKT phải nhằm vào nâng cao chất lượng đời sống NNL, tôn vinh NNL có chất lượng sáng tạo từ sự chủ động của chính quyền phục vụ[19] như là mục đích của nó. Nếu không thực hiện được điều này thì NNL cũng khó mà phát triển theo nhu cầu TCCKT đang diễn ra.

 

Đó là triết lý hai mặt của sự PTNNL và TCCKT, hay tăng trưởng kinh tế (TTKT), PTKT nói chung. Nếu không sẽ rơi vào sai lầm. hay lãng quên, nên chỉ coi NNL, và coi con người là công cụ của PTKT, đi đến “vắt chanh bỏ vỏ”. Thiếu quan điểm biện chứng nhân văn chắc chắn sẽ để lại nhiều bi kịch như đình công, bãi công, và phân hóa giàu nghèo cao độ và hậu quả không bền vững rất khó lường.

 

Đào tạo, sử dụng và tôn vinh, nâng cao đời sống, chất lượng sống của NLĐ, hay NNL là ba mặt của một vấn đề trong quan hệ với TCCKT, ĐMMHTT...Từ đó mà TCCNNL- là PTNNL hay cũng là một phương thức giải phóng và PTNNL.

 

Cũng là phải có cái nhìn rộng hơn của sự tương quan: TCCKT- PTNNL và CCTC (cải cách thể chế). Nếu không khả năng không thành hiện thực. Bởi vì:Thế nên tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu năm nay, ý kiến của các nhà quản lý, các chuyên gia kinh tế đều cho rằng, trong nhiều nguyên nhân, tư duy và thể chế quản lý trì trệ vẫn là 02 vấn đề mang tính chất quyết định cốt lõi nhất. Kinh tế phát triển hay tụt hậu, đi nhanh hay… khập khiễng so với nhân loại phần lớn được quyết định ở tư duy và thể chế, mang tầm chiến lược và văn minh, hay ngược lại, ngắn hạn và xưa cũ.Điều đó cũng phản chiếu một quy luật thực tiễn khắc nghiệt. Nhưng ở góc độ nào đó, sự khắc nghiệt mang ý nghĩa động lực tích cực. Mọi đổi mới, đến một giai đoạn nào đó, nếu tư duy và thể chế quản lý vẫn bất biến, không tương thích với đòi hỏi của thời cuộc, sẽ vô tình trở thành “vòng kim cô” cho nền kinh tế trên con đường … “thỉnh kinh” hội nhập. Đi ngược 30 năm trước đây thôi, nếu không có sự “lột xác” về tư duy và thể chế quản lý kinh tế thị trường, tháo tung tất cả những xơ cứng của tư duy và cơ chế quản lý cũ, làm sao đất nước có được những thay đổi diện mạo như hôm nay? Rõ ràng, quy luật thực tiễn khắc nghiệt đó không cho phép bất cứ nhà nước nào, quốc gia nào thỏa mãn và hài lòng với chính mình[20].Cân nhấn mạnh là tư duy và thể chế quản lý ở nước ta hiện nay còn nhiều tri trệ[21]. Không đổi mới TCCTC (tái cơ cấu thể chế) thì khó mà có TCCKT và TCCNNL Cho nên”Trong chất lượng thể chế, thì mối quan hệ nhà nước và thị trường phải điều chỉnh lại. Phải chuyển đổi vai trò của nhà nước từ nhà nước chỉ huy sang nhà nước kiến tạo phát triển”.

 

Cho nên nói về sự tương quan biện chứng phải tránh nhìn một vài mặt. Nó không chỉ nhất quan hệ, hay quan hệ cặp đôi mà là ba quan hệ, nên không nên chỉ thấy một mắt vấn đề trong PTNNL. 

 

VI- Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

 

Cách tiếp cận hai loại khái niệm cơ bản và khái niệm về sự tương quan giữa chúng (PTNNL theo nhu cầu, hay yêu cầu của TCCKT), tuy nói một mặt nhưng trong thực tế đó là quan hệ nhân/ quả hai chiều và nhiều chiều cạnh khác… là tạo nên một cách nhìn CCKT và CCNNL một cách biện chứng toàn diện xét cả số lượng và chất lượng. Nhưng không thể không biết đến và yâu cầu cải cách về quản lý và quản trị của nhà nước.Từ đó cho ta quan niệm toàn diện, không bỏ sót những quan hệ phức tạp liên đới cấu thành.

 

Tiếp cận khái niệm chỉ ra một số nội hàm chủ yếu và tinh tương quan, của cải cách hay tái cơ cấu “vừa có trọng tâm vừa phải động bộ” là làm rõ cơ sở lý luận cơ bản và phương pháp phân tích cấu trúc hệ thống và tái cấu trúc hệ thống cũng như phân tích chất lượng khi đi vào kháo sát, nghiên cứu các vấn đề cụ thể ngang dọc, lớn nhỏ, cấp độ hay khía cạnh khác của chúng là hết sức cần thiết.

 

Qua các nghiên cứu về PTNNL, thì thấy còn ít công trình, bài viết nghiên cứu về cơ cấu lao động, CCNNL mà phần nhiều là nhiền cứu về chất lượng NNL; hoặc nghiên cứu thiên về số lượng nhân lực thất nghiệp, hay đào tạo NNL đang thiếu yếu tố gì, còn cơ cấu đào tạo nói chung là chưa đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, nhưng có ít điều tra cụ thể nó là như thế nào?

 

Chính sự phân tích, giới hạn nghĩa rộng hẹp vốn có của các khái niệm hay còn gọi là “giới thuyết khái niệm”, làm cho nó trở nên tường minh, xác định rõ ràng vấn đề nghiên cứu mô tả, tránh “ông nói gà bà nói vịt”, gây nên tranh luận xa rời vấn đề không cần thiết.

 

Tránh “tư duy cơ giới luận”, không thấm nhuần “tư duy biện chứng hệ thống phức hợp” trong khi thực hiện đổi mới,TCCKT, TCCNNL, TCCQTNN (tái cơ cấu quản trị nhà nước)… có như vậy mới mong thành công.

 

*****

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1-Edgar Morin: “Nhập môn tư duy phức hợp”, và “Nhận biết con người - một siêu phức hợp của tiến hóa vũ trụ”(http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=71&News=2967&CategoryID=12)

2-Hồ Bá Thâm: Phát triển nguồn nhân lực thích ứng biện chứng với tái cơ cấu kinh tế và hội nhập quốc tề (bản thảo sách, 2015)

3-Tô Văn Trường: Về tái cơ cấu nền kinh tế, HIỂU THẾ NÀO VÀ LÀM GÌ ĐỂ TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ? , http://www.vids.org.vn/vn/asp/News_Detail.asp?tabid=1&mid=830&ID=2350

4-Phạm Minh Trí, (http://reds.vn/index.php/tri-thuc/kinh-te-hoc/3730-nhung-van-de-cot-loi-cua-tai-cau-truc-kinh-te)...

5-http://vov.vn/chinh-tri/quoc-hoi/can-nghiem-tuc-nhin-nhan-tai-co-cau-nguon-nhan-luc-361497.vov

6- http://www.thanhnien.com.vn/kinh-te/tai-co-cau-nguon-nhan-luc-trong-kho-khan-72794.html

7-Kỳ Duyên, http://m.vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/261511/dang-cap-quoc-gia-va-tu-duy-van-hoa-tieu-nong.html

*****

Chú thích:

[1] Việc một cái gì đó là phức hợp không thể được tóm gọn thành một từ chuẩn, không thể đưa thành một quy luật, không thể được quy giản thành một ý niệm đơn thuần. Nói cách khác, cái phức hợp [le complexe] không thể tóm lược bằng khái niệm tính phức hợp [complexité], không thể thu gọn thành quy luật về tính phức hợp, không thể quy giản thành ý niệm về tính phức hợp. Tính phức hợp hẳn không phải là một cái gì đó có thể thay chỗ cho tính giản tiện và không thể được định nghĩa một cách đơn giản. Tính phức hợp là từ ngữ mang tính vấn đề [mot problème] chứ không phải là từ ngữ mang tính giải pháp [mot solution]…., tư duy phức hợp luôn được kích thích bởi một một sự căng kéo thường trực giữa khát vọng có được một tri thức không bị xé vụn, không bị ngăn ô, không bị quy giản, và việc phải chấp nhận tính thiếu hoàn chỉnh và tính bất toàn của mọi tri thức…Đích thực, Phương pháp là và sẽ là phương pháp phức hợp [méthode de la complexité]. (Xem Cuốn sách “Nhập môn tư duy phức hợp” không phải là sách phổ cập. Nó tập hợp sáu văn bản được Edgar Morin công bố trong vòng 15 năm, từ giữa những năm 1970 đến năm 1990 – năm sách này được xuất bản lần đầu. Các văn bản khá đa dạng, được chọn lọc, sắp xếp tương đối hệ thống, nhằm làm nổi bật hệ vấn đề tính phức hợp mà tác giả khẳng định là “nằm ở trung tâm những suy tư của tôi”. Là “cha đẻ của tư duy phức hợp”, Edgar Morin đã kể lại quá trình hình thành tư duy phức hợp từ cuối những năm 1960, dưới sự tác động của lý thuyết thông tin, điều khiển học, lý thuyết hệ thống và lý thuyết tự-tổ chức như thế nào (http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=71&News=2967&CategoryID=12)[2] Tô Văn Trường: Về tái cơ cấu nền kinh tế, HIỂU THẾ NÀO VÀ LÀM GÌ ĐỂ TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ? , http://www.vids.org.vn/vn/asp/News_Detail.asp?tabid=1&mid=830&ID=2350

[3] https://www.youtube.com/watch?v=NOptgXPp5ig

[4] Tái cấu trúc kinh tế là việc cần kíp, nhưng không phải là việc của ngày một, ngày hai. Việc đầu tiên phải tạo ra tiền đề, và quan trọng nhất là (1) tiền đề thể chế, tạo lập một cách đồng bộ các yếu tố kinh tế thị trường và môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; thêm nữa (2) cần có nguồn nhân lực chất lượng cao để chuyển đổi mô hình tăng trưởng.Trong bối cảnh cả nền kinh tế đang tái cấu trúc, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu thay vì chiều rộng, thì việc bản thân các doanh nghiệp tự cấu trúc lại doanh nghiệp của mình là một việc làm cần thiết. “Tư lệnh” của “chiến dịch đàm phán Việt Nam gia nhập WTO” sẽ có những lời khuyên hữu ích về việc tái cấu trúc chính các doanh nghiệp. Ông cũng sẽ có những gợi ý về nội dung khởi đầu trong tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế Việt (http://www.pace.edu.vn/vn/tin-tuc-su-kien/ChiTiet/854/324).

[5] TS PHẠM MINH TRÍ (SGGP):Vấn đề phân bổ nguồn lực, bao gồm tài nguyên, đất đai, các nguồn vốn trong nước và từ ngoài vào. Đây là bản chất, thực chất, cốt lõi của tái cấu trúc nền kinh tế, có ý nghĩa quyết định việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mô hình tăng trưởng nào đó(http://reds.vn/index.php/tri-thuc/kinh-te-hoc/3730-nhung-van-de-cot-loi-cua-tai-cau-truc-kinh-te).

[6] Tôi, HBT, thêm mục tiêu này thành 5 mục tiêu chứ không chỉ 4 mục tiêu như dã xác định.

[7] Tô Văn Trường, nt, http://www.vids.org.vn/vn/asp/News_Detail.asp?tabid=1&mid=830&ID=2350

[8] Việc chuyển dịch kinh tế trong kinh tế thị trường của các nước trên thế giới là một quá trình phát triển tiệm tiến được điều tiết bởi các quy luật kinh tế, nhất là quy luật cạnh tranh, lợi nhuận hay bình quân hóa lợi nhuận. Chính các quy luật kinh tế đã điều tiết và tạo nên quá trình hình thành cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế theo mô hình, định hướng nhất định. Chính sách nhà nước của các nền kinh tế thị trường không có tác dụng quyết định mà chỉ có thể can thiệp vào quá trình này với mức độ nhất định, thành công hay không thành công phụ thuộc vào tính đúng đắn, phù hợp các quy luật kinh tế và thực tiễn, được kinh tế thị trường chấp nhận. Còn đối với kinh tế thị trường định hướng XHCN của chúng ta, việc phân bổ nguồn lực đôi khi vẫn còn tình trạng chủ quan, duy ý chí theo tư duy kế hoạch hóa, cơ chế xin - cho, thậm chí còn có thể bị chi phối bởi quan điểm, lợi ích cục bộ nhóm, ngành, địa phương như đã có trong thời gian qua. Do vậy, tư duy và chính sách phân bổ nguồn lực có ý nghĩa quyết định thành công hay không đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tái cấu trúc nền kinh tế, thay đổi mô hình tăng trưởng trong các giai đoạn sắp tới. Ngược lại, nếu chúng ta vẫn giữ tư duy quan điểm, chính sách và cơ chế phân bổ nguồn lực như cũ, chắc chắn không bảo đảm tái cấu trúc nền kinh tế, thay đổi mô hình tăng trưởng thành công như chúng ta mong muốn. Cải cách triệt để doanh nghiệp nhà nước (DNNN), nhất là các tập đoàn, tổng công ty 90, 91 trên các mặt: nhân sự lãnh đạo, quản trị DN và một vấn đề hết sức quan trọng đối với DNNN nói chung là, xem xét và thay đổi cơ bản tư duy và quan điểm về vai trò của loại hình này. Thực tiễn phát triển kinh tế trong những năm qua đã chứng tỏ khá rõ ràng, đầy thuyết phục là khu vực DNNN đã sử dụng, khai thác và quản lý một bộ phận lớn nguồn tài nguyên, vốn xã hội kém hiệu quả, thậm chí còn làm thất thoát, lãng phí một bộ phận không nhỏ nguồn lực xã hội, làm suy yếu năng lực cạnh tranh, thế và lực của nền kinh tế nói chung. Nếu nền kinh tế Việt Nam trong các giai đoạn sắp tới không nâng cao được hiệu quả DNNN, nhất là với các tập đoàn, tổng công ty lớn thì sẽ giậm chân tại chỗ trong bẫy thu nhập trung bình, thu nhập thấp, không thể tiến lên được. Vấn đề phân cấp và quản lý các nền kinh tế địa phương. Trong cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế lần này, có lẽ nên xem xét lại phân cấp quản lý và quy hoạch các nền kinh tế địa phương. Như cách làm hiện nay, nền kinh tế Việt Nam không còn là một nền kinh tế quốc dân đúng nghĩa của nó. Mà đã bị xé thành 63 nền kinh tế địa phương và nền kinh tế của chính phủ trung ương. Chính phủ phân cấp quản lý và quy hoạch cho 63 tỉnh, thành, phân bổ nguồn tài nguyên, ngân sách. Các tỉnh, thành được chủ động quy hoạch phát triển kinh tế trên địa bàn của mình theo tư duy, chính sách tăng trưởng, phát triển giống nhau, cũng hô hào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa - hiện đại hóa… bất chấp lợi thế riêng có, lợi thế cạnh tranh của từng địa phương. Địa phương nào cũng xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, mặc dù lợi thế sẵn có, lợi thế cạnh tranh của mình chủ yếu ở lĩnh vực nông nghiệp, còn công nghiệp chỉ là con số không. Đã có thời, có phong trào làm nhà máy đường, nhưng không có mía, nhà máy xi măng, cảng biển, sân golf, sân bay gần nhau… hoàn toàn không theo một kế hoạch thống nhất, hợp lý của nhà nước trung ương, trong khi chúng ta có đầy đủ các bộ, ngành quản lý. Có lẽ, đã đến lúc nên xem xét lại kiểu phân cấp này.Từ những phân tích trên, có thể nói, nếu không xử lý các vấn đề theo tư duy đổi mới mà vẫn chưa thoát khỏi con đường mòn cũ, cách làm cũ thì e rằng, việc tái cấu trúc nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng “bình mới, rượu cũ”, hoặc thậm chí là “bình cũ, rượu cũ”, không đạt được kết quả mong muốn (Phãm Minh Trí, (http://reds.vn/index.php/tri-thuc/kinh-te-hoc/3730-nhung-van-de-cot-loi-cua-tai-cau-truc-kinh-te)...

[9] http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/nr091019083649/ns111028092759, http://vneconomy.vn/thoi-su/tai-cau-truc-kinh-te-bat-dau-tu-doi-moi-tu-duy-20100623033958423.htm.

[10] Tái cơ cấu nền kinh tế: Từ lý luận tới thực tiễn tại Việt Nam(2014), http://www.baomoi.com/Tai-co-cau-nen-kinh-te-Tu-ly-luan-toi-thuc-tien-tai-Viet-Nam/c/12946937.epi

[11] Một nghịch lý đang tồn tại trong nền kinh tế Việt Nam là những ngành có năng suất lao động thấp nhất hiện cũng là ngành phân bổ nhiều nguồn lực nhất bao gồm: bất động sản, tài chính ngân hàng hay xây dựng (http://www.nhantainhanluc.com/2015/09/nghich-ly-nhan-luc-o-vao-noi-hieu-qua.html)...

[12] http://www.nhantainhanluc.com/2015/09/nguy-co-that-nghiep-ngay-tren-san-nha.html

[13] Giáo dục được coi là “quốc sách hàng đầu”, nhưng thiếu tầm nhìn chiến lược tổng thể; thiếu kiên quyết theo đuổi một triết lý giáo dục xác định; thiếu kế hoạch đồng bộ từ cơ cấu tổ chức đến triển khai các hoạt động giáo dục, hậu quả là càng cải cách càng tụt lùi. Nguy cơ cả một thế hệ trẻ em bị phát triển lệch lạc về trí tuệ, nhân cách do sự phân tầng trong giáo dục đã nhãn tiền (http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/viet-nam-mot-tam-nhin-phat-trien)

[14] Tô Văn Trường: Về tái cơ cấu nền kinh tế, HIỂU THẾ NÀO VÀ LÀM GÌ ĐỂ TÁI CƠ CẤU NỀN KINH TẾ? http://www.vids.org.vn/vn/asp/News_Detail.asp?tabid=1&mid=830&ID=2350

[15] https://vi-vn.facebook.com/notes/x-men-for-boss/t%C3%A1i-c%C6%A1-c%E1%BA%A5u-ngu%E1%BB%93n-nh%C3%A2n-l%E1%BB%B1c-%C4%91%E1%BB%83-v%C6%B0%E1%BB%A3t-qua-kh%C3%B3-kh%C4%83n/329745717151070; Hội thảo về "Tái cơ cấu và phát triển nguồn nhân lực cho tăng trưởng dài hạn sau khủng hoảng"(16/6/2009) do Công ty HR2B & MC(https://www.hr2b.com/tintuc/hoi-thao-ve-tai-co-cau-va-phat-trien-nguon-nhan-luc-cho-tang-truong-dai-han-sau-khung-hoang-do-cong-ty-hr2b-mc-10.html)

[16] http://vov.vn/chinh-tri/quoc-hoi/can-nghiem-tuc-nhin-nhan-tai-co-cau-nguon-nhan-luc-361497.vov

[17] http://www.thanhnien.com.vn/kinh-te/tai-co-cau-nguon-nhan-luc-trong-kho-khan-72794.html

[18] Kinh nghiệm của Nhật bản chi biết, chất lượng NNL, tay nghề, tính nghiên túc, trách nhiệm cao, tính kỷ luật cao…là quyết định nhất (chứ chưa phải là công nghệ) sản phẩm cạnh tranh, nền kinh tế cạnh tranh (ví dụ trong lĩnh vực trồng rau chất lượng cao).

[19] Lão nông Việt Nam chế robot khiến người Israel thán phục, Cập nhật : 09:51 | 08/09/2015, được Nhà nước ta tặng thưởng huân chương Lao động hạng Ba.

Nhà sáng chế hàng loạt máy móc nông nghiệp này mới chỉ học hết lớp 7. Ông Phạm Văn Hát ở xã Ngọc Kỳ, Tứ Kỳ, Hải Dương đã sáng chế hàng loạt máy móc giúp nông dân bớt cảnh “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, nhưng sau thất bại trồng rau do thời tiết, ông sang Israel làm nông nghiệp. Làm đến ngày thứ ba ông Hát “hoa mắt, chóng mặt, ù tai”. Ông nằng nặc đòi gặp ông chủ trang trại. Tiếng Anh ông Hát chỉ biết “good” hoặc “not good”. Ông Hát huơ tay ra hiệu rồi lấy que vạch lên những nét nguệch ngoạc trên bãi cát. “Người Do Thái rất thông minh! Ông chủ hiểu ngay tôi muốn cải tiến cái máy. Ông ấy về văn phòng mang giấy, bút, compa, thước kẻ... để tôi vẽ ra những ý tưởng” - ông Hát kể. Sau đó ông Hát được ông chủ người Israel cho phép chỉ ngồi ở nhà sáng chế. Hai người giao tiếp chủ yếu nhờ... công cụ dịch của Google. Mọi yêu cầu về vật liệu đều được nhân viên trang trại sắm. Nhờ kiến thức đã tích lũy, chỉ sau ít ngày ông Hát đã hoàn thiện thiết bị rải phân tự động gắn vào sau chiếc máy kéo. “Mặc dù khi ấy đã sắp tối, ông chủ vẫn đem máy ra cánh đồng thử. Máy chạy đến đâu rải đều lên luống một lớp phân đều như nhau. Bất ngờ và cảm kích, bố con ông chủ trang trại ôm chầm lấy tôi và cầm luôn bình xịt sơn xịt lên máy dòng chữ: “Máy của Hát” - ông Hát nhớ lại. Sau đó hội đồng thẩm định của nhà nước Israel đến tận cánh đồng để thực nghiệm “Máy của Hát” và cấp bằng sáng chế cho ông chủ trang trại, đồng thời cấp cho ông chủ một khoản “thù lao sáng tạo” hạng trung lưu và mỗi năm một chuyến du lịch châu Âu. Tết âm lịch 2010, ông chủ đưa ông Hát đến thăm Đại sứ quán Việt Nam tại Israel để bày tỏ cảm ơn và mời các thành viên đại sứ quán về nhà chiêu đãi (Theo PL TP.HCM). Còn ở VN thì sao, phải làm đủ thủ tục chạy lên chạy xuống, đợi dài cổ mới có thể có bằng sáng chế!?

[20] http://m.vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/261511/dang-cap-quoc-gia-va-tu-duy-van-hoa-tieu-nong.html.

[21] Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế TƯ (CIEM) Nguyễn Đình Cung, lâu nay nói hội nhập thì dư luận XH hay phê phán các DN không tích cực, nhưng thực chất, các DN như đang đi trên cái cầu khỉ, trên lưng bị đè nặng bởi khối đá- chi phí. Trong khi tư duy quản lý nhà nước vẫn đứng bề trên để quản lý DN, đặt ra bao nhiêu rào cản chứ không đồng hành với DN. Bộ máy của ta “nghiện” quản lý, “nghiện” ra lệnh, cơ cấu tổ chức không thay đổi nên năng lực quản lý khôngthay đổi. Không phải DN, mà chính là cơ chế quản lý đang cản trở hội nhập (VnEconomy, ngày 27/8).Một nhận xét dễ “mất lòng” nhưng đó là… sự thật!Cựu Bộ trưởng Thương mại (nay là Bộ Công thương) Trương Đình Tuyển, và chuyên gia kinh tế Võ Đại Lược vô tình đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu khi nhận xét rằng, hội nhập phải đi liền với đổi mới, nhưng đổi mới bên trong chậm quá. Nội dung cải cách phải tập trung vào cải cách thể chế. Kinh nghiệm thực tiễn của nhân loại cho thấy các quốc gia chỉ có thể giàu lên nếu có thể chế tốt. Trong chất lượng thể chế, thì mối quan hệ nhà nước và thị trường phải điều chỉnh lại. Phải chuyển đổi vai trò của nhà nước từ nhà nước chỉ huy sang nhà nước kiến tạo phát triển – như người đứng đầu CP đã từng phát biểu. Rõ ràng, tư duy và thể chế quản lý đang có nguy cơ già lão- chân chậm mắt kém. Nhưng làm thế nào để từ nhà nước chỉ huy sang nhà nước kiến tạo phát triển? Cũng tức là thanh xuân hóa tư duy và năng lực hành động của nền quản trị quốc gia? (http://m.vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/261511/dang-cap-quoc-gia-va-tu-duy-van-hoa-tieu-nong.html)

 

 

Lưu trữ

Sổ liên kết

Nguồn cấp tin

Viện nhân tài CHC

Đăng ký nhận tin
 
Tổng số lượt xem trang
4425937
Quạt trần cao cấp chính hãng, quạt trần trang trí động cơ mạnh mẽ, mẫu mã đẹp‎, tổng kho quạt trần