Suy nghĩ về vấn đề phát triển nhân lực của Việt Nam hiện nay (phần 1)

Đăng bởi: AdministratorIn

 

PGS, TS Đàm Đức Vượng

 

1. Cơ sở lý luận về phát triển nhân lực Việt Nam hiện nay:

 

Cơ sở lý luận về phát triển nhân lực của Việt Nam hiện nay đã có văn kiện Đại hội XI và Đại hội XII của Đảng. Bên cạnh đó, Chính phủ đã công bố một loạt văn bản pháp quy về xây dựng nhân lực chất lượng cao. Cụ thể là ngày 19-4-2011, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 579/QĐ-TTg, phê duyệt "Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020". Tiếp sau đó là hàng loạt văn bản của Chính phủ đặt vấn đề trực tiếp hoặc có liên quan đến vấn đề phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2015, như Chỉ thị số 18/CT/TTg, ngày 30-5-2012 của Thủ tướng Chính phủ, về việc "Triển khai thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội giai đoạn 2011-2015"; Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 4-6-2010 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020"; Quyết định số 418/QĐ-TTg, ngày 11-4-1912 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt "Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020"; Quyết định số 711/QĐ-TTg, ngày 13 (15?)- 6-2012 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt "Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020"... Đó là những văn bản mang tính pháp quy, mà trong khi nghiên cứu không thể không nhắc đến. Có điều là do có nhiều văn bản, nên đôi khi các văn bản không ăn nhập với nhau, như cùng một thời gian 2011-2020, nhưng có văn bản viết "thời kỳ", có văn bản viết "giai đoạn"? Vậy "thời kỳ" hay "giai đoạn"? Đây lại là cả vấn đề lý luận về phân kỳ mà các nhà soạn thảo văn bản chưa tính đến. Ở đây, cũng phải làm rõ khái niệm "nhân lực" và "nguồn nhân lực", không nên lẫn lộn hai khái niệm này. Nhân lực là cái của hiện tại, còn nguồn nhân lực là cái của tương lai.

 

Về thuật ngữ khoa học, có thể gọi chung là "nhân lực", trong đó có "nguồn nhân lực". Một vấn đề nữa đặt ra là đã có văn kiện mới của Đảng (văn kiện Đại hội XII), vậy các chiến lược trên (đều ra văn bản từ năm 2010 đến năm 2012, trước Đại hội XII là từ 3-5 năm) có chỉnh sửa, bổ sung không? Nếu có, thì chỉnh sửa, bổ sung những vấn đề gì, nội dung gì, cũng cần làm rõ.

 

Mọi vấn đề phát triển nhân lực Việt Nam hiện nay tập trung vào phát huy "nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội" như trong văn kiện Đại hội XII của Đảng (tr.434) đã ghi.

 

Quyết định 579 của Chính phủ xác định tương đối rõ về mục tiêu tổng quát phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ (giai đoạn) 2011-2020 là "đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó, một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới".

 

Muốn trở thành nền tảng, nhân lực Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm từ A đến Z, phải đưa nhân tố con người vào chiến lược phát triển. Khi nói đến con người, phải tính đến sức khỏe, tầm vóc, trí tuệ, ý chí, năng lực, phẩm chất, có tinh thần sáng tạo và kỹ năng nghề nghiệp; cần tính đến nhân lực (đội ngũ công chức, viên chức) trong khu vực nhà nước và trong khu vực tư nhân, nhân lực trong giáo dục và đào tạo, nhân lực trong khoa học và công nghệ, nhân lực trong các doanh nghiệp. Sự phát triển đồng bộ, toàn diện sẽ tạo lên xung lực mạnh để phát triển nhân lực. Huy động sức mạnh của toàn dân vào công cuộc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là vấn đề cần được quan tâm.

 

Nếu biết khơi nguồn tốt "vốn người", chúng ta sẽ có "vốn tiền". Người sinh ra tiền, và sau đó, tiền lại có tác dụng trở lại đối với người, làm cho người có đủ điều kiện vật chất và tinh thần để làm ra tiền và cứ thế, tạo thành vòng xoáy phát triển của mỗi người và từ mỗi người tạo thành vòng xoáy phát triển của xã hội. Vì vậy, mối quan hệ giữa "người - tiền - tiền - người" là mối quan hệ mang tính quy luật và tính nhân quả trong thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế.

 

Khoa học và công nghệ càng phát triển, người và tiền càng phụ thuộc lẫn nhau, con người cũng càng phụ thuộc lẫn nhau. Đất nước không có tiền sẽ rơi vào suy thoái, nhưng đất nước không biết sử dụng đồng tiền hoặc lũng đoạn đồng tiền cũng sẽ rơi vào suy thoái. Không phải tất cả vì tiền, nhưng nếu không có tiền thì không làm được việc gì. Nhưng một xã hội mà xây dựng được những con người lãnh đạo, quản lý giỏi, những chuyên gia, tổng công trình sư, nhà tham mưu tài năng, thì những con người ấy sẽ làm ra được nhiều tiền cho xã hội. Vì vậy, việc xây dựng chất lượng con người và chất lượng cuộc sống là rất quan trọng, mang tính quyết định cho sự phát triển xã hội.

 

2. Nhìn sang các nước giải quyết vấn đề nhân lực:

 

Đã có nhiều cuốn sách, bài nghiên cứu viết về vấn đề nhân lực ở các nước. Trên mạng internet cũng đăng tải rất nhiều bài viết về vấn đề nhân lực của thế giới và nước sở tại. Hiện nay, có một số nước nổi lên về kết quả phát triển nhân lực như Mỹ, Anh, Canađa, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore,... Chung quy lại, có thể khái quát các loại hình sau đây:

 

Một là: Loại hình xây dựng hệ thống luật và chính sách về phát triển nhân lực và tạo nguồn nhân lực, trong đó, cụ thể hóa vấn đề nhân lực và nguồn nhân lực chung của quốc gia và của từng ngành, từng địa phương, đơn vị; ngành, địa phương, đơn vị cứ theo "barem" mà thi hành.

 

Về vấn đề này, có nước như Hàn Quốc đã ban hành nhiều đạo luật và luật xoay quanh vấn đề nhân lực và nguồn nhân lực, như Đạo luật Lương tối thiểu, Đạo luật Bảo hiểm việc làm, Đạo luật Chính sách tuyển dụng cơ bản, Đạo luật Tuyển dụng công bằng, Đạo luật Xúc tiến việc làm và tái hòa nhập ngành nghề cho người tàn tật,...

 

Hai là: Nhiều nước cân đối được nhân lực trong cả nước của họ, bằng việc phân bố nhân lực chuyên môn cho từng ngành, địa phương, đơn vị cơ sở, tạo thế cân bằng cho phát triển đồng đều; khắc phục hiện tượng bất bình đẳng, thân quen trong việc bố trí nhân lực, làm mọi người hài lòng về việc làm của mình.

 

Ba là: Họ giáo dục cho công dân nước của họ là không có sự đối xử phân biệt về ngành nghề. Vì vậy, người dân họ coi nghề quét rác, thu dọn vệ sinh nơi công cộng, giá trị công việc (theo ngành nghề) cũng ngang bằng với một quan chức nhà nước. Về vấn đề này sẽ khắc phục được tình trạng chọn ngành nghề và cũng khắc phục được nhận thức nghề này hơn nghề kia, nghề này danh giá hơn nghề kia. Luật Bình đẳng giới cũng là một "kênh" tạo sự cân bằng và công bằng trong sự phát triển nhân lực tại một số nước.

 

Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, tại một số nước đang rơi vào tình trạng yếu kém trong phát triển nhân lực của nước họ. Một số nước đã phải thừa nhận tình trạng "thừa đại học", "thiếu thợ giỏi chuyên môn". Đó là hậu quả của việc phát triển không cân đối.

 

3. Tình hình vấn đề nhân lực của Việt Nam hiện nay:

 

Nhân lực và nguồn nhân lực ở đây bao gồm toàn bộ lực lượng lao động của cả nước, nhưng điểm nhấn là công nhân, nông dân, trí thức, cán bộ, công chức, viên chức, nhà doanh nghiệp, sinh viên, học sinh và lực lượng bảo vệ đất nước.

 

Về số liệu, theo "Niên giám Thống kê năm 2014" (Nhà Xuất bản Tổng cục Thống kê vừa xuất bản), thì dân số cả nước đến ngày 31-12-2014, có 90.728.900 người, trong đó, thành thị là 30.035.400 người, nông thôn là 60.693.500 người. Có hai thành phố đông dân nhất của cả nước là thành phố Hồ Chí Minh là 7.981.900 người và Hà Nội là 7.087.700 người. Lực lượng lao động của cả nước từ 15 tuổi trở lên là 53.748.000 người (năm 2011 là 51.398.400 người), trong đó, thành thị là 16.525.500 người (năm 2011 là 15.251.900 người), nông thôn là 37.222.500 người (năm 2011 là 36.146.500 người). Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong ngành kinh tế đã qua đào tạo là 18,2% (năm 2011 là 15,4%). Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi năm 2014 là 2,10%, chia ra thành thị là 3,40% và nông thôn là 1,49%.

 

Năm 2014, cả nước có 435 trường đại học và cao đẳng (năm 2011 là 419 trường). Sinh viên tốt nghiệp năm 2014 là 532,1 nghìn người (năm 2011 là 398,2 nghìn người)...

 

Văn kiện Đại hội XII của Đảng (tr. 272), ghi rõ đến năm 2020, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65-70%, trong đó, có bằng cấp chứng chỉ đạt 25%.

 

Theo "Diễn đàn kinh tế thế giới", Việt Nam hiện có 66.094.000 người trong độ tuổi lao động; tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam tương đương với 70,77% và tỷ lệ dân số tham gia lực lượng lao động là 77,5%.

 

Số liệu trên đã phần nào phản ánh thực chất nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay. Có thề phân tích thực chất nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay:

 

- Nhờ đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp, nên nguồn nhân lực theo đó mà có sự nhận thức lại và sự quan tâm nhiều hơn của Đảng và Nhà nước, đưa vấn đề phát triển nguồn nhân lực và phát triển con người làm chủ thể của nền kinh tế - xã hội. Nhận thức này đã tạo chuyển biến ở các ngành, các cấp trong tiến trình phát triển nhân lực. Sự tác động của chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.

 

- Công tác quản lý nhà nước về nguồn nhân lực được quan tâm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả.

 

Công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức có nhiều tiến bộ; đã triển khai kế hoạch việc làm trong cả nước; đổi mới cơ chế, chính sách tuyển dụng, đánh giá, phân loại, bổ nhiệm, luân chuyển. Chất lượng và cơ cấu của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có sự chuyển biến tích cực.

 

- Lực lượng sản xuất phát triển đã tạo đà cho nguồn nhân lực phát triển, thể hiện ở sự phát triển của đội ngũ công nhân và đội ngũ trí thức. Điểm nổi trội của phát triển kinh tế trong thời gian qua là sự tác động của các lực lượng lao động vào trong sản xuất và kinh doanh. Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo phát triển đã tác động mạnh đến sự phát triển của nguồn nhân lực. Đây là vấn đề đồng bộ, quan hệ nhiều chiều, tác động qua lại giữa sự phát triển kinh tế với sự phát triển nguồn nhân lực.

 

- Tiếp tục có bước phát triển về số lượng nhân lực. Có người nói rằng, không cần tính đến số lượng nhân lực, mà hãy chú trọng đến chất lượng nhân lực. Nói như vậy chưa đúng. Để có bước phát triển về chất lượng nhân lực và nguồn nhân lực, trước hết, cần phải có bước phát triển về số lượng và qua đó mới chuyển hóa từ những thay đổi về số lượng thành những thay đổi về chất lượng. Tuy nhiên, cũng không nên quan niệm thuần túy là chỉ cần tăng số lượng nhân lực, chứ không có sự thay đổi về chất lượng. Vấn đề số lượng và chất lượng nguồn nhân lực phải được xem trọng cả hai, trong đó, chất lượng là quan trọng nhất. So với năm 2011, thì đến năm 2014, lực lượng lao động của cả nước từ 15 tuổi trở lên ở thành thị là 16.525.500 người (năm 2011 là 15.251.900 người); ở nông thôn là 37.222.500 người (năm 2011 là 36.146.500 người). Đây rõ ràng có sự tăng trưởng về số lượng lao động.

 

- Do sự mở mang các ngành nghề kinh tế đã tạo ra một nguồn nhân lực khá dồi dào. Nhiều công ty, xí nghiệp, nhà máy được hình thành mới, đòi hỏi phải có lực lượng lao động hùng hậu, đáp ứng tương xứng, do đó mà nguồn nhân lực phát triển. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 9 tháng của năm 2015, cả nước đã có 68.347 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 420,9 nghìn tỷ đồng, tăng 28,5% về số doanh nghiệp so với 9 tháng của năm 2014, theo đó, đã tạo việc làm mới trong 9 tháng của năm 2015 cho 999,3 nghìn người, tăng 25,7% so với 9 tháng của năm 2014. Số doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, nay quay trở lại hoạt động trong 9 tháng của năm 2015 là 12.848 đơn vị, đã giải quyết việc làm trở lại cho khoảng 300 nghìn người. Số công ty của người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam cũng đang có chiều hướng tăng lên, thu hút được một lực lượng lao động có tay nghề cao. Người Hàn Quốc tính rằng, Việt Nam là nước an toàn, nên có thể sinh cơ lập nghiệp lâu dài.

 

- Trong cuộc cạnh tranh và chạy đua khốc liệt trong nền kinh tế thị trường hội nhập, nhiều địa phương bứt phá nhanh về tạo nguồn nhân lực. Trong số các địa phương phát triển có hiệu quả nhất phải kể đến thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2014, lực lượng lao động tại Thành phố là 4.190.525 người, chiếm 51,7% tổng dân số của Thành phố. Là trung tâm kinh tế của cả nước, tập trung nhiều doanh nghiệp lớn và có ưu thế về giáo dục, đào tạo, nên Thành phố đã thu hút được nhiều nguồn lao động có tay nghề cao trong khu vực dịch vụ. Tỷ lệ lao động qua đào tạo thường ở mức cao hơn trung bình cả nước. Cụ thể năm 2014 đạt 69,9% (so với 38% của năm 2013). Mấy năm nay, kinh tế Thành phố phát triển đồng đều, đa dạng và mang tính sáng tạo. Do có chính sách thông thoáng, nhiều nhà đầu tư cỡ lớn ở nước ngoài đã đầu tư kinh doanh tại thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố đang cần tuyển dụng 25 nghìn lao động thuộc các ngành nghề. Sự trỗi dậy của các địa phương trong tiến trình phát triển nguồn nhân lực, phục vụ cho các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội rất đáng được ghi nhận.

 

- Về vấn đề "vốn con người", Việt Nam cũng đã có bước tiến nhất định. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Người là vốn quý nhất". Thế giới hiện đang tập trung nghiên cứu về vốn con người.

 

Vốn con người được định hình ở khả năng, tài năng thông qua giáo dục và phát triển các kỹ năng của con người, khai thác ở tất cả các giai đoạn trong vòng đời của con người. Việt Nam hiện được xếp thứ 59 thế giới về chỉ số "vốn con người" do "Diễn đàn kinh tế thế giới" bình chọn, với số điểm 68,48/100. Phần Lan đứng đầu bảng về chỉ số vốn con người năm 2015, với 86/100 điểm. Những vị trí tiếp theo lần lượt thuộc về Na Uy, Thụy Sĩ, Canađa, Nhật Bản, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, New Zealand, Bỉ.

 

Bên cạnh những mặt được ghi nhận là kết quả trên đây về phát triển nguồn nhân lực trong thời gian qua, cũng phải nói rằng, về phát triển nguồn nhân lực của đất nước còn nhiều hạn chế, yếu kém, xin nêu một số hạn chế, yếu kém nhất:

 

- Trước hết, phải nói rằng, nhận thức về nguồn nhân lực chưa đầy đủ, thông suốt, thậm chí có người còn hiểu méo mó vấn đề này, cho rằng, chỉ có cơ quan nhà nước mới đủ sức, đủ trình độ nghiên cứu về nguồn nhân lực, trong khi thực chất lực lượng nghiên cứu về nguồn nhân lực của khu vực ngoài công lập lại rất sung mãn, vì đây là nơi hội tụ các nhà khoa học có danh tiếng, có kinh nghiệm đã về hưu. Mục đích của nhận thức về nguồn nhân lực là đạt tới chân lý khách quan. Trong quá trình nhận thức, con người thu nhận được những khái niệm về thực trạng của nguồn nhân lực hiện nay, trên cơ sở đó mà có sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn. Xa rời chân lý khách quan, nhất định sẽ dẫn đến chủ quan duy ý chí. Trong thời gian qua, các tổ chức ngoài công lập, nhất là các viện nghiên cứu về nhân tài, nhân lực và về con người, lao động đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển nguồn nhân lực, thể hiện ở những đề tài cấp quốc gia, quốc tế, ở những công trình nghiên cứu khoa học về nguồn nhân lực, giảng dạy về nguồn nhân lực, ở các báo cáo khoa học về con người và nguồn nhân lực. Rất tiếc là các cơ quan công quyền, các cấp lãnh đạo, nhất là cấp lãnh đạo ở tầm vĩ mô, lại rất ít quan tâm đến các tổ chức này. Phải nói rằng, sân chơi này không chỉ dành riêng cho các viện (cơ quan) công lập, mà nó là sân chơi chung cho tất cả những ai nghiên cứu về nó, trong đó có các viện (cơ quan) ngoài công lập. Sơ bộ thống kê các bài nghiên cứu, sách viết về nhân lực và nguồn nhân lực ở các tổ chức ngoài công lập đã được công bố ở trong nước và ngoài nước chiếm tỷ lệ khoảng 60% so với 40% ở các tổ chức công lập.

 

- Thiếu hẳn sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, bộc lộ hiện tượng "cha chung không ai khóc", "đánh trống bỏ dùi"; chưa có một cơ quan nào đứng ra làm trung tâm tập hợp các lực lượng nghiên cứu về nhân lực và nguồn nhân lực, đã dẫn đến tình trạng nghiên cứu nhất phương, mạnh ai nấy làm, chụp giật, rời rạc, chắp vá. Nhìn chung, vẫn còn trong vòng luẩn quẩn nhận thức và sự thiếu kết hợp về nghiên cứu nhân lực và nguồn nhân lực cũng như trong việc định chính sách phát triển nhân lực và nguồn nhân lực. Có người nói rằng, tình trạng chung hiện nay là "mở" trong lời nói, nhưng lại "đóng" trong thực thi.

 

- Trong thời gian qua, việc phát triển nhân lực và nguồn nhân lực không được cân đối, nhất là "đầu vào" trong giáo dục đại học và cao đẳng vênh với "đầu ra" trong tìm kiếm việc làm.

 

Hiện nay, còn khoảng trên dưới 100 nghìn sinh viên đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng, nhưng vẫn chưa tìm được việc làm. Nhiều gia đình nông thôn bán cả nhà đất, trâu bò, lợn gà để nuôi cho con ăn học đại học, nhưng khi ra trường vẫn không xin được việc làm, "tay trắng" vẫn hoàn "trắng tay". Tình trạng đổ xô vào học đại học vẫn tiếp diễn, trong khi đó, lại sao nhãng đến việc giáo dục nghề nghiệp cho học sinh và gia đình học sinh, dẫn đến tình trạng thừa cử nhân, thiếu công nhân có tay nghề cao.

 

- Lực lượng lao động ở khu vực kinh tế nhà nước với khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài phát triển không đều, theo hướng nghiêng về tư nhân, trong khi Cương lĩnh của Đảng lại là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thí dụ, tính đến năm 2014, lực lượng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước là 5.473.500 người, kinh tế ngoài nhà nước là 45.214.400 người, kinh tế khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 2.056.600 người (Số liệu rút trong Niên giám Thống kê 2014, Nhà Xuất bản Thống kê, Hà Nội, 2015). Vì vậy, nếu xét về tiêu chí lực lượng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước ít hơn nhiều so với lực lượng lao động trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Nguyên lý của chủ nghĩa xã hội là kinh tế nhà nước phải nắm vai trò chủ đạo và hiển nhiên, lực lượng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước cũng phải đông hơn so với lực lượng lao động trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Nhưng, đây lại là quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường. Có người nói rằng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng mới chỉ dừng lại ở "lý luận", còn trong thực tiễn lại phát triển theo chiều hướng khác. Đây là một thực tế mà ta phải đối mặt với nó, làm sao bảo đảm cho lý luận phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trở thành hiện thực.

 

- Nguồn nhân lực đã qua đào tạo là một lợi thế cạnh tranh khi tham gia vào cộng đồng kinh tế thế giới. Nhưng thử hỏi vấn đề đào tạo nghề ở nước ta hiện nay đang ở vào tình trạng nào?

 

Hiện nay, cả nước có khoảng trên dưới 1.300 cơ sở dạy nghề. Tuy nhiên, hệ thống dạy nghề còn nhiều bất cập, giáo viên dạy nghề còn thiếu và yếu (thiếu khoảng 50.000 người); việc tuyển sinh vào học nghề còn nhiều khó khăn; không ít học sinh học nghề vào trường học nghề, chỉ vài tháng sau, bỏ ra ngoài làm tư. Có khoảng 70% cơ sở vật chất, thiết bị của các trường dạy nghề cũ kỹ, lạc hậu và thiếu. Vì không có học sinh vào học nghề, nhiều cơ sở dạy nghề đã phải đóng cửa.

 

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc phân theo ngành kinh tế như nông nghiệp, khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo, xây dựng, vận tải, thông tin và truyền thông,... phát triển cũng không đồng đều.

 

- Trong nguồn nhân lực, vai trò của đội ngũ công chức, viên chức là rất quan trọng, nhưng đang lại là bất cập. Cơ cấu công chức, viên chức chưa hợp lý về số lượng và chất lượng; chức danh ngạch, nghề nghiệp, trình độ, độ tuổi, dân tộc, giới tính, nhất là tương quan cơ cấu giữa các cơ quan với nhau và giữa các cơ quan trung ương và cơ quan địa phương. Chưa xác định rõ đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu quản lý nhà nước, yêu cầu cung cấp dịch vụ công của từng ngành, từng lĩnh vực, từng khu vực cụ thể để làm cơ sở xây dựng kế hoạch cơ cấu công chức, viên chức phù hợp. Khâu đánh giá và sử dụng công chức, viên chức làm chưa tốt.

 

- Đội ngũ công chức, viên chức (gọi chung là những người làm công ăn lương) phát triển không cân xứng với các thành phần lao động khác trong xã hội. Cũng theo số liệu thống kê, đến năm 2014, những người làm công ăn lương là 18.801.200 người, trong khi chủ cơ sở sản xuất kinh doanh lại là 1.102.200 người và tự làm là 21.534.200 người, lao động gia đình là 11.298.600 người,...

 

Những hạn chế, yếu kém trên đây là do khâu tổ chức chưa tốt, nhất là tổ chức thực hiện chính sách về nguồn nhân lực; tinh thần trách nhiệm của các cơ quan chức năng chưa cao; chưa có sự gắn kết bền vững giữa các khâu tạo nguồn nhân lực; trình độ của những người làm công tác này chưa đáp ứng được yêu cầu công việc; chưa có đội ngũ chuyên gia giỏi về lĩnh vực này.

 

Những yếu kém này làm cho tình hình nhân lực Việt Nam vẫn đang trong vòng luẩn quẩn, chưa thấy sự rõ ràng trong một hệ thống luật, chính sách và sự minh bạch trong thực thi. (hết phần 1)

Lưu trữ

Sổ liên kết

Nguồn cấp tin

Viện nhân tài CHC

Đăng ký nhận tin
 
Tổng số lượt xem trang
4736801
Quạt trần cao cấp chính hãng, quạt trần trang trí động cơ mạnh mẽ, mẫu mã đẹp‎, tổng kho quạt trần