Suy nghĩ về vấn đề phát triển nhân lực của Việt Nam hiện nay (phần 2)

Đăng bởi: AdministratorIn

 

4. Định hướng và giải pháp cho vấn đề phát triển nhân lực Việt Nam hiện nay:

 

Theo Quyết định 579 của Chính phủ đã nêu trên, thời kỳ (giai đoạn) 2011-2020, phấn đấu đến năm 2020 đạt được một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển nhân lực như sau:

 

Chỉ tiêu năm 2020

 

Chỉ tiêu

năm 2010

năm 2015

năm 2020

I/ Nâng cao trí lực và kỹ năng lao động

 

 

 

l/ Tỉ lệ lao động qua đào tạo (%)

40,0

55,0

70,0

2/ Tỉ lệ lao động qua đào tạo học nghề (%)

25,0

40,0

55,0

3/ Số SV đại học, cao đẳng trên

10.000 dân (SV)

200

300

400

4/ Số lượng dạy nghề đạt đẳng cấp quốc tế(trường)

--

5

>10

5/ Số trường đại học xuất sắc trình độ quốc tế (trường)

--

--

>4

6/ Nhân lực có trình độ cao trong các lĩnh vực đột phá (người)

- Quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và luật quốc tế

- Giảng viên đại học, cao đẳng

- Khoa học - công nghệ

- Y tế - chăm sóc sức khỏe

- Tài chính - ngân hàng

- Công nghệ thông tin

 

 

15.000

 

77.500

40.000

60.000

70.000

180.000

 

 

18.000

 

100.000

60.000

70.000

100.000

350.000

 

 

20.000

 

160.000

100.000

80.000

120.000

550.000

II/Nâng cao thể lực nhân lực

 

 

 

1/ Tuổi thọ trung bình (năm)

73

74

75

2/ Chiều cao trung bình thanh niên (mét)

>1,61

>1,63

>1,65

3/ Tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi (%)

17,5

<10,0

<5,0

 

Xem biểu bảng trên, hình như chưa có tổng kết năm 2010 và năm 2015.

 

Trong Quyết định 579 nêu 7 quan điểm chỉ đạo thực hiện mục tiêu phát triển, trong đó, nhấn mạnh đến "phát triển nhân lực trên cơ sở Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011- 2020 phát huy vai trò quyết định của yếu tố con người, phát triển nhân lực là khâu đột phá đểm thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội". Đây là mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế - xã hội với phát triển chiến lược con người.

 

Chương trình phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam nên tập trung vào các mũi nhọn như nhân lực trong các lĩnh vực: giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; công nghệ thông tin; nhân lực trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp; y tế; kinh tế; công nghiệp, nông nghiệp, doanh nghiệp; giao thông vận tải; lao động có tay nghề cao; lĩnh vực văn hóa; báo chí và xuất bản; quốc phòng; an ninh; ngoại giao. Đây toàn là những mũi nhọn của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những lĩnh vực này đòi hỏi ở lòng nhiệt tình và tri thức của nhà lãnh đạo, nhà quản lý, các chuyên gia, cán bộ, công chức, viên chức, trí thức, công nhân, nông dân, sinh viên, học sinh và lực lượng lao động. Toàn bộ sự phát triển về nguồn nhân lực của giai đoạn tiếp theo 2016-2020 phải phục vụ tích cực cho việc phát triển kinh tế để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp.

 

Phương hướng phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn tiếp theo đã có trong "Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020". Về những giải pháp phát triển nhân lực, trong Quyết định 579 đưa ra những giải pháp đột phá và những giải pháp khác. Giải pháp đột phá nhấn mạnh đến đổi mới nhận thức về phát triển và sử dụng nhân lực, nhấn mạnh đến việc quán triệt quan điểm con người là nền tảng, là yếu tố quyết định nhất trong phát triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước và sự hưng thịnh của mỗi tổ chức, đơn vị; đánh giá, sử dụng, đãi ngộ nhân lực phải dựa vào năng lực và kết quả, hiệu quả công việc; đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản quản lý nhà nước về phát triển và sử dụng nhân lực; xây dựng bộ tiêu chí về phát triển nhân lực và sáng tạo của các địa phương và cấp quốc gia; đẩy mạnh phân cấp, thực hiện quyền tự chủ, nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo nhân lực trên cơ sở quản lý nhà nước và giám sát của xã hội; tập trung xây dựng và thực hiện các chương trình, dự án trọng điểm về đào tạo, sử dụng và bố trí nhân sự, trọng dụng nhân tài.

 

Giải pháp khác, nhấn mạnh đến việc xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển giáo dục và Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ (giai đoạn) 2011-2020; đào tạo nhân lực các vùng, miền và nhóm đặc thù; phát triển và phát huy các giá trị văn hóa, dân tộc của người Việt Nam; đổi mới chính sách sử dụng nhân lực; huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển nhân lực đến năm 2020; tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế về nhân lực.Giải pháp đột phá trong Quyết định 579, nhìn chung, tôi chưa thấy gì gọi là "đột phá".

 

Riêng về giải pháp cho vấn đề này, qua nghiên cứu, tôi thấy:

 

- Phải thật sự đổi mới tư duy về phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm tính khoa học, tính cụ thể và tính phát triển. Đã đến lúc chúng ta phải đưa khoa học vào phát triển nguồn nhân lực, trở thành khoa học về nhân tài, nhân lực. Nếu không có khoa học tác động vào, thì việc phát triển nguồn nhân lực sẽ chỉ là tự phát, mò mẫm, chủ quan. - Cần tạo bước đột biến về chính sách, thể chế để huy động lực lượng lao động tối ưu trong cả nước, biết cách tạo ra một nguồn nhân lực dồi dào, đáp ứng được nhu cầu cho các ngành cần đến. Chính sách và thể chế về nguồn nhân lực ở Việt Nam phải phù hợp với con người Việt Nam và đặc điểm Việt Nam.

 

- Phát triển nguồn nhân lực phải gắn với phát triển kinh tế, mô hình tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp đại cơ khí, phát triển kinh tế tri thức, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ của các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong hình ảnh của các lĩnh vực đời sống xã hội, hình ảnh nào cũng có những con người đáp ứng đầy đủ công việc của lĩnh vực đó.

 

- Để đáp ứng với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, dứt khoát phải nâng cao chất lượng trên cơ sở vẫn tiếp tục phát triển số lượng nguồn nhân lực. Việt Nam hiện nay đã là thành viên của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TTP và là thành viên của Cộng đồng kinh tế ASEAN, điều đó đòi hỏi rất cao về chất lượng nhân lực, vì chỉ có chất lượng nhân lực mới tạo ra được chất lượng của sản phẩm; đồng thời, mới có cơ hội đi xuất khẩu lao động sang các nước thuộc TTP.

 

- Xây dựng mô hình cạnh tranh cao về phát triển nguồn nhân lực giữa Việt Nam với các quốc gia và giữa các ngành, các lĩnh vực trong nước với nhau. Trong kinh tế, nếu thiếu tính cạnh tranh, lập tức hàng hóa sản xuất ra sẽ không bán được bởi giá thành cao dẫn đến giá bán cao, chất lượng hàng hóa thấp, mẫu mã xấu. Vì vậy, cạnh tranh trong kinh tế thị trường phải trở thành tất yếu. Muốn cạnh tranh trong kinh tế thị trường, trước hết, phải nghĩ ngay đến cạnh tranh trong nhân lực và tạo nguồn nhân lực.

 

- Tạo dựng thị trường nhân lực (hoặc thị trường lao động) trong cả nước. Thị trường này làm nhiệm vụ chuyển đổi lao động từ nơi này sang nơi khác, từ nước này sang nước khác, làm cả nhiệm vụ xuất khẩu và nhập khẩu lao động. Từ trước tới nay, chúng ta chỉ nói đến xuất khẩu lao động, mà không nói đến nhập khẩu lao động, nhất là nhập khẩu lao động những tổng công trình sư, kỹ sư, chuyên gia của các nước công nghiệp vào làm việc tại Việt Nam. Đây chính làmột trong những nguyên nhân làm cho chất lượng hàng hóa của Việt Nam còn thấp. Nay cần khắc phục. Phải từ bỏ nhận thức cho rằng, thị trường nhân lực là nơi buôn bán lao động, mà xác định đây chỉ là nơi luân chuyển, xuất khẩu và nhập khẩu lao động.

 

- Nên có sự khoanh vùng phát triển nguồn nhân lực, vực dậy những vùng phát triển kém thành những vùng phát triển khá, trong đó, ngoài nguồn nhân lực ở nơi thành thị, cũng cần chú ý đến phát triển nguồn nhân lực ở nông thôn, phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội chiếm khoảng từ 30-40% như trong văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nêu. Phát triển nguồn nhân lực ở nông thôn phải gắn với việc xây dựng nông thôn mới.

 

- Phải tính đến giải pháp về chất lượng sinh con của người Việt Nam hiện nay. Xét cho cùng, chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc trước hết từ bào thai trong bụng người mẹ. Có người nước ngoài nói rằng, chất lượng sinh con của người Việt Nam hiện nay là thấp, nhất là ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, đẻ ra những đứa con ốm yếu, còi cọc, thiếu dinh dưỡng, thì làm sao mà có được nguồn nhân lực khỏe mạnh, sức vóc trong tương lai. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao chất lượng sinh con lên, có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước.

 

- Cần có sự gắn kết giữa gia đình - nhà trường - xã hội để tạo ra nguồn nhân lực dồi dào và có chất lượng cao cho đất nước. Sự gắn kết này nhằm giáo dục cho mỗi thành viên nước nhà có ý thức, sự phấn đấu, rèn luyện, vươn lên xây dựng con người khỏe mạnh, tầm vóc, trí tuệ, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước.

 

- Phải đặc biệt chú trọng đào tạo đội ngũ chuyên gia giỏi, nghiên cứu về nguồn nhân lực và nhân lực, nhân tài; có khả năng nắm bắt và khả năng phân tích, tổng kết, khả năng đề xuất về phát triển nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai.

 

Muốn đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, chúng ta không thể thổi "tiếng kèn ngập ngừng" về phát triển nhân lực và tạo nguồn nhân lực, mà phải thổi "tiếng kèn tiến lên", phấn đấu quyết liệt, chung tay, chung sức cùng làm, có như vậy, chỉ số nhân lực của Việt Nam mới có những bước phát triển mới. (hết phần 2)

 

 

Lưu trữ

Sổ liên kết

Nguồn cấp tin

Viện nhân tài CHC

Đăng ký nhận tin
 
Tổng số lượt xem trang
4822944
Quạt trần cao cấp chính hãng, quạt trần trang trí động cơ mạnh mẽ, mẫu mã đẹp‎, tổng kho quạt trần