Suy nghĩ về vấn đề phát triển nhân lực của Việt Nam hiện nay (phần 3)

Đăng bởi: AdministratorIn

 

Đi vào cụ thể, qua nghiên cứu, tôi đề nghị cần thực hiện một số giải pháp như sau:

 

Một là: Phải xác định cho rõ nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Một đất nước rất ít tài nguyên thiên nhiên như ở Việt Nam, cần phải lấy nguồn nhân lực làm nguồn tài nguyên thay thế, gọi là "tài nguyên nguồn nhân lực", hoặc tài nguyên con người. Muốn vậy, phải làm cho mọi người thấy rõ vai trò và trách nhiệm đào tạo và sử dụng nhân lực, biến thách thức và chất lượng nhân lực thành lợi thế cạnh tranh trên phương diện toàn cầu. Đây là nhiệm vụ của toàn xã hội, mang tính xã hội; là trách nhiệm của các cấp lãnh đạo, quản lý, của nhà trường, của doanh nghiệp, của gia đình cũng như của bản thân mỗi người lao động. "Đây chính là thể hiện quan điểm phát triển con người, phát triển kinh tế - xã hội vì con người và do con người, là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững".

 

Hai là: Mở cuộc vận động sâu rộng trong toàn xã hội về phát triển nhân lực Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát động phong trào thi đua yêu nước tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, góp phần giúp cho mọi người hiểu rõ về các chính sách phát triển nhân lực. Vận động các doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực để sử dụng với chất lượng ngày càng cao.

 

Ba là: Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nhân lực, việc làm, giáo dục, đào tạo, chính sách tiền lương, khen thưởng, đãi ngộ; chính sách trọng dụng chuyên gia, tham mưu, kỹ sư, tổng công trình sư, nhà thiết kế, tạo mẫu, phát minh, gọi chung là nhân tài, chính sách về môi trường, điều kiện, phương tiện làm việc; chính sách việc làm, thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ xã hội; chính sách cho các cơ quan khoa học bán công lập, ngoài công lập (NGO). Tổ chức tốt việc thực hiện các chính sách đó. Cải cách chế độ tiền lương cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, có chế độ ưu đãi cho người học.

 

Bốn là: Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực; hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhân lực; đổi mới phương pháp giáo dục, quản lý nhân lực, thấu tình đạt lý, nhìn rõ đúng sai, kịp thời rút kinh nghiệm về quản lý nhân lực. Tổ chức bộ máy quản lý nhân lực từ trung ương đến địa phương. Nhân sự cho bộ máy này phải là những chuyên gia giỏi về nghiên cứu nhân tài, nhân lực trong và ngoài biên chế nhà nước. Làm rõ chức năng, nhiệm vụ của bộ máy này là tư vấn, tham mưu, đề xuất, thu thập, phân tích các số liệu về nguồn lực ở tất cả các ngành, các cấp.

 

Năm là: Tiến hành điều tra, khảo sát thường xuyên về nhân lực và chất lượng nhân lực ở tất cả các ngành, các cấp, địa phương và cả nước; bảo đảm cân đối cung cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi cả nước và trong từng ngành, từng cấp, từng địa phương.

 

Sáu là: Đổi mới đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế, chủ yếu là hội nhập kinh tế quốc tế.

 

Bảy là: Đổi mới quản lý nhà nước về đào tạo và dạy nghề từ trung ương đến địa phương; tổ chức hợp lý hệ thống cấp bậc đào tạo; thực hiện phân cấp quản lý đào tạo giữa bộ, ngành, địa phương; quy hoạch lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề. Khuyến khích thành lập các trường đại học, cao đẳng, tư thục tại các nơi có điều kiện, góp phần đẩy nhanh số lượng và chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo.

 

Tám là: Đổi mới cách xây dựng nền giáo dục, đào tạo, phục vụ nhu cầu xã hội; thực hiện đúng yêu cầu học để làm việc, giúp nước, giúp dân; xây dựng cơ sở đào tạo theo hướng đào tạo đến đâu sử dụng đến đó.

 

Chín là: Xây dựng hệ thống quốc gia để kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục và đào tạo; xử lý việc thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực trên phạm vi cả nước, bảo đảm phát triển hài hòa, cân đối.

 

Mười là: Bảo đảm và huy động nguồn vốn cho phát triển nhân lực trên phạm vi cả nước; đẩy mạnh xã hội hóa để tăng cường các nguồn vốn cho phát triển nhân lực.

 

Mười một là: Nâng cao hơn nữa đến chất lượng con người. Chất lượng con người, trước hết, phải tính đến chất lượng sinh con. Ngành y tế phải có những quy định cụ thể về chất lượng sinh con như kiểm tra sức khỏe, bệnh tật, tính di truyền và vợ chồng quan hệ để sinh con,... trước khi chính quyền cấp giấy đăng ký giá thú.Hiện nay, tại Việt Nam, đang có tình trạng đẻ vô tội vạ, đẻ không tính toán, cân nhắc, nhất là ở nông thôn, làm cho những đứa con sinh ra bị còi cọc, không phát triển được trí tuệ. Thậm chí có những người bị nhiễm chất độc da cam mà vẫn đẻ ra những đứa con dị tật. Có người tính rằng, tại Việt Nam, cứ 10 đứa trẻ sinh ra, có 1 đứa trẻ bị dị tật bẩm sinh. Vì vậy, phải tăng cường chất lượng hoạt động của các cơ quan chức năng.

 

Khi có chất lượng con người, phải tính đến chất lượng cuộc sống, có nghĩa là phải nuôi dưỡng về vật chất và tinh thần của con người sinh ra, bảo đảm cho họ có thể lực dồi dào, trí tuệ minh mẫn.

 

Xây dựng chất lượng con người phải có sự gắn kết với chất lượng cuộc sống xã hội; có sự gắn kết chặt chẽ giữa xã hội - nhà trường - gia đình để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai.

 

Mười hai là: Nhà nước xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xác định thật rõ xây dựng nguồn nhân lực là trách nhiệm của các nhà hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện chính sách, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

 

Mười ba là: Nhà nước xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xác định thật rõ xây dựng, thực hiện và phát triển nguồn nhân lực là trách nhiệm của toàn xã hội và của mỗi công dân Việt Nam.

 

Mười bốn là: Phải có cả một hệ thống cơ chế thật thông thoáng để khai thác, phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và trọng dụng nhân tài. Nếu chúng ta cứ bằng lòng với cơ chế hiện nay, thì không bao giờ có những nhân tài xuất hiện, vì mọi cái đều ràng buộc như vòng kim cô, người tài không thoát ra được. Vì vậy, phải có cơ chế tự chủ, tự hành động, vượt qua tất cả rào cản để tiến nhanh trên con đường nhân tài.

 

Mười năm là: Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ hiện đại về Việt Nam. Chọn ra những người có thiên hướng bác học, gửi đi đào tạo ở nước ngoài bằng nguồn kinh phí của nhà nước.

 

Mười sáu là: Sau mỗi một giai đoạn triển khai, Nhà nước cần tổng kết về lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực ở Việt Nam, đánh giá đúng mặt được, mặt chưa được, kịp thời rút ra những kinh nghiệm, trên cơ sở đó mà phát huy mặt tốt, khắc phục mặt chưa tốt.

 

Mười bảy là: Chính phủ và các cơ quan chức năng phải có chính sách, biện pháp kết hợp thật tốt giữa đào tạo và sử dụng trong tổng thể phát triển kinh tế của đất nước, đáp ứng có hiệu quả nguồn lao động có chất lượng cao cho yêu cầu phát triển của nền kinh tế.

 

Mười tám là: Cần có định kỳ tăng tiền lương cho cán bộ, công nhân (ở cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân), công chức, viên chức. Tăng lương theo định kỳ cũng là một giải pháp tốt để tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm, vì giữa năng suất lao động và tiền lương có mối quan hệ tương tác với nhau. Năng suất lao động tăng thì tiền lương cũng phải tăng và ngược lại. Ông Kurôda Kazuteru, người Nhật Bản, chuyên gia nghiên cứu về năng suất lao động, làm việc tại Trung tâm Năng suất Nhật Bản, nói rằng: "Nếu năng suất lao động giảm mà tiền lương tăng thì thiệt thòi cho giới chủ, còn nếu tiền lương giảm mà năng suất lao động tăng thì thiệt thòi cho người lao động". Đúng vậy.

 

Mười chín là: Cần đầu tư tài chính cho những tổ chức, đơn vị, viện, nhà khoa học đã và đang nghiên cứu về nhân lực Việt Nam (kể cả trong công lập và ngoài công lập). Hiện nay, ngân sách nhà nước chi cho các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân còn khá lớn, trong khi đó lại ít chi cho các tổ chức, đơn vị, viện, nhà khoa học để làm vấn đề này (Theo Dự toán chi ngân sách trung ương năm 2016, tổng chi cho các cơ quan trung ương của 6 tổ chức chính trị - xã hội tới 1.503,740 tỉ đồng). Chi cho các tổ chức, cơ quan, đơn vị, viện, nhà khoa học để nghiên cứu cho ra vấn đề nhân lực là sự chi cần thiết.

 

Hai mươi là: Cần có sự hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu nâng cao chất lượng nhân lực của Việt Nam nói riêng.

 

5. Làm thế nào để tháo gỡ được rào cản trong việc phát triển nhân lực hiện nay?

 

Nhiều nhà khoa học cho rằng, bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và trong nghiên cứu nhân lực, vẫn còn nhiều rào cản (mặc dù đã được khắc phục một bước) trong việc nghiên cứu, khai thác, sử dụng nhân lực và tạo nguồn nhân lực hiện nay, như việc vẫn còn phân biệt đối xử trong nghiên cứu khoa học giữa các tổ chức, cơ quan, đơn vị, viện nghiên cứu khoa học trong công lập và ngoài công lập, nhất là trong việc "ăn - chia" đề tài nghiên cứu khoa học. Xu thế hiện nay vẫn là ưu tiên làm đề tài khoa học cho các tổ chức, cơ quan, đơn vị, viện trong công lập hơn là ngoài công lập. Hiện nay, vẫn còn tình trạng về mặt pháp lý thì bình đẳng trong nghiên cứu khoa học, nhưng thực chất bên trong, vẫn còn không ít người làm công tác lãnh đạo, quản lý thiên về các tổ chức, cơ quan, đơn vị, viện trong công lập hơn là ngoài công lập. Niềm tin vào các tổ chức ngoài công lập chưa được củng cố.

 

Cơ chế tài chính trong nghiên cứu khoa học vẫn còn nhiều chuyện phải bàn, vẫn chưa thích hợp với tình hình nghiên cứu khoa học hiện nay. Nhiều vị có chức có quyền đề nghị nên căn cứ vào chất lượng sản phẩm, công trình mà "khoán trọn gói" cho người chịu trách nhiệm chính thực thi đề tài, đề án, dự án nghiên cứu khoa học, nhưng trên thực tế vẫn còn rườm rà về thủ tục thanh, quyết toán. Điều này phản ánh là chưa có sự thống nhất từ trên xuống dưới, "trên bảo dưới không nghe". Vì vậy, cần có sự đổi mới mạnh mẽ hơn nữa về vấn đề này.

 

Cần phá bỏ sự độc quyền nghiên cứu khoa học đối với bất kỳ tổ chức, cơ quan, đơn vị, viện nào, phải xác định việc nghiên cứu khoa học là sự nghiệp chung của mọi công dân, mọi nhà khoa học; tạo sân chơi phẳng, bình đẳng trong nghiên cứu khoa học.

 

Nên sửa lại một số chính sách cho phù hợp với việc phát triển nhân lực và nguồn nhân lực hiện nay.

 

Đó là chính sách mở, thông thoáng cho tất cả mọi nhà khoa học được quyền nghiên cứu, quyền đấu thầu các công trình khoa học.

 

Nên chọn những nhà khoa học có tầm, có tâm vào các hội đồng chấm các đề án, đề tài, luận án, luận văn, bảo đảm tính công bằng, dân chủ, tránh tình trạng cảm tình cá nhân, cơ hội như hiện nay của một số thành viên trong một số hội đồng khoa học xét duyệt, chấm công trình, đề tài, đề án, dự án, luận án, luận văn.

 

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là cần bỏ ngay các rào cản để phát triển.

 

Kiến nghị bổ sung về chính sách phát triển nhân lực:

 

Chính phủ đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ (giai đoạn) 2011-2020, ban hành kèm theo Quyết định 579. Trong Chương trình này, Chính phủ xây dựng, bổ sung và phát triển hệ thống khung pháp lý chung và chính sách phát triển nhân lực Việt Nam. Cụ thể là: (1) Xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục (sửa đổi). Tập trung vào các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và tăng cường quyền tự chủ cho các đơn vị đào tạo. (2) Xây dựng Luật Giáo dục đại học; xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục đại học (sau khi Luật đã được Quốc hội thông qua. (3) Xây dựng Luật Giáo viên; xây dựng nghị định hướng dẫn thi hành Luật Giáo viên (sau khi Luật được Quốc hội thông qua). (4) Xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Dạy nghề, về phát triển hệ thống dạy nghề (về giáo viên dạy nghề, về phát triển hệ thống dạy nghề trong doanh nghiệp, về hệ thống kiểm định, đánh giá chất lượng dạy nghề...). (5) Xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Lao động (những nội dung quy định về đào tạo) để khuyến khích và huy động các doanh nghiệp tham gia và đóng góp nhiều hơn cho đào tạo nghề. (6) Xây dựng Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội về việc thành lập và sử dụng Quỹ hỗ trợ đào tạo lao động dôi dư và người thất nghiệp. (7) Xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Công vụ. (8) Xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Công chức. (9) Hoàn thiện trình Quốc hội thông qua Luật Viên chức; xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Viên chức (sau khi Luật Viên chức được Quốc hội thông qua). (10) Xây dựng Nghị định về hoạt động phi lợi nhuận và hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (chung đối với các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao). (11) Xây dựng Nghị định về chính sách, cơ chế khuyến khích doanh nghiệp phát triển nguồn nhân lực từ nguồn tài chính của doanh nghiệp. (12) Xây dựng báo cáo rà soát hệ thống văn bản pháp lý về phát triển, quản lý và sử dụng nhân lực (nhằm loại bỏ sự chồng chéo, bất hợp lý của hệ thống và kiến nghị giải pháp khắc phục. (13) Xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách trọng dụng và thu hút nhân tài khoa học - công nghệ. (14). Xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về hệ thống chuẩn tiêu chí và trình tự thủ tục hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các chương trình, dự án trọng điểm phát triển nhân lực.

 

Ngoài những luật, nghị định, quyết định trên đây mà Chính phủ đã đề ra trong Chiến lược Phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ (giai đoạn) 2011-2020, tôi xin đề nghị bổ sung xây dựng thêm 5 luật về nhân lực: (1) Luật Nhân tài nhân lực. (2) Luật Nghiên cứu khoa học. (3) Luật Tiền lương. (4) Luật Việc làm (trong đó có việc làm cho người tàn tật) (5) Luật tuyển dụng lao động; kèm theo là Nghị định hướng dẫn thi hành các luật trên.

 

Sự nghiệp xây dựng nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã và đang diễn ra trên khắp mọi miền đất nước. Đường lối đúng, chính sách phù hợp, tổ chức thực hiện tốt là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển nhân tài nhân lực của Việt Nam hiện nay.

 

 

Lưu trữ

Sổ liên kết

Nguồn cấp tin

Viện nhân tài CHC

Đăng ký nhận tin
 
Tổng số lượt xem trang
3123935
Quạt trần cao cấp chính hãng, quạt trần trang trí động cơ mạnh mẽ, mẫu mã đẹp‎, tổng kho quạt trần