Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài - Chương II

Đăng bởi: AdministratorIn

Trước tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt từ nhiều phía, các nước tư bản phát triển đều ra sức đầu tư vào lĩnh vực giáo dục – đào tạo và nghiên cứu khoa học – công nghệ với những chương trình cơ bản và dài hạn xuyên sang thế ký XXI.

Chương II. Những thách thức đối với giáo dục Việt Nam trong thế kỷ XXII

Sự hình thành xã hội thông tin Trong báo cáo “Châu Âu và xã hội thông tin toàn cầu” năm 1994, ông Bangenman đã nhấn mạnh: “Trên quy mô thế giới, công nghệ thông tin và viễn thông đang đưa đến một cuộc cách mạng công nghiệp mới, và ngay từ bây giờ nó cũng có tầm quan trọng và tính triệt để như các cuộc cách mạng trước đây”. Tất nhiên, cuộc cách mạng khoa học công nghệ này cũng dẫn đến hậu quả về lao động và việc làm như các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trước. Thực vậy, cuộc cách mạng thông tin đòi hỏi trình độ của nguồn nhân lực phải cao hơn và năng động hơn. Các nước phát triển đã tạo ra số việc làm trong các ngành công nghệ cao tương đương, thậm chí còn cao hơn số việc làm bị mất của các ngành khác. Công nghệ thông tin đã và đang làm thay đổi bản chất của lao động, biến đối tổ chức sản xuất và quá trình sản xuất. Những vấn đề này đang làm thay đổi xã hội, thay đổi cả lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và điều kiện làm việc của người lao động. 

Công nghệ thông tin, một mặt khuyến khích phân tán công việc, nhưng cũng điều phối công việc trong các mạng lưới liên hệ với nhau theo thời gian trong một quốc gia, một khu vực và có khi trên toàn thế giới. Như vậy, người lao động có được tính độc lập cá nhân trong tổ chức làm việc, nhưng lại cần có một tri thức tương đối rộng để có thể hội nhập với thị trường lao động quốc tế. Tác động của công nghệ thông tin có tính hai mặt: một mặt, nó tăng cường vai trò của yếu tố con người trong quá trình sản xuất, nhưng mặt khác, nó làm cho họ rất dễ tổn thương trước những thay đổi trong tổ chức lao động, vì họ là một cá nhân đơn lẻ đối mặt với một mạng lưới hết sức phức tạp. Công nghệ thông tin thâm nhập vào tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Trong lĩnh vực giáo dục, nó làm cho cách học và cách sản xuất xích lại gần nhau. Cuối cùng, xã hội thông tin cũng đưa đến một câu hỏi là liệu ngoài kiến thức nó mang lại thì nội dung giáo dục mà nó truyền tải có còn là yếu tố làm giàu văn hoá cho từng cá thể hay không? Người ta e ngại rằng chất lượng giáo dục dựa quá nhiều với giới truyền thông đa phương tiện sẽ dẫn đến một thứ văn hoá tầm thường, trong đó từng cá nhân đánh mất các giá trị lịch sử, địa lý và văn hoá truyền thống và có khi sẽ bị đồng hoá với các giá trị văn hoá của một số nước. Xã hội thông tin sẽ làm thay đổi phương thức giảng dạy bằng cách thay thế quan hệ thụ động bằng quan hệ chủ động của học sinh với thầy giáo. Tuy nhiên, vấn đề bảo đảm nội dung và chương trình giáo dục là yếu tố quan trong nhất để đảm bảo chất lượng giáo dục.

Nhân tài đất Việt

Trong xã hội ngày nay, thông tin và tri thức là cơ sở cho việc ra quyết định và hành động. Chất lượng của các quyết định, hiệu quả của các hành động phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của thông tin. Sử dụng nhiều thông tin và tri thức trong quá trình thực hiện công việc sẽ đạt được chất lượng và hiệu quả tốt hơn. Thông tin có vai trò rất quan trọng trong sản xuất, trong quản lý, điều hành, cũng như trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. 

Thông tin là cơ sở của tri thức. Thông tin được con người xử lý, tiếp thu, nhận thức thì biến thành tri thức. Thông tin là tài nguyên quan trọng nhất trong xã hội thông tin. Trong xã hội nông nghiệp và công nghiệp, thông tin cũng có vai trò quan trọng, nhưng chưa được coi là cần thiết nhất. Ngày nay, thông tin ngày càng trở nên có ý nghĩa quyết định, là một nhu cầu cơ bản của con người. Mọi lĩnh vực từ sản xuất, quản lý điều hành, cho đến đời sống xã hội đều phải có thông tin. Thông tin phát triển mạnh là thể hiện trình độ phát triển cao của một xã hội. Lĩnh vực nào thiếu thông tin thì lĩnh vực đó khó có thể phát triển. Ở những nước phát triển, như Hoa Kỳ, các nước Tây Âu, những ngành kinh tế dựa trên việc xử lý thông tin đang hoạt động sôi động nhất, chiếm trên 45% GDP. 

Việc thu thập, lưu trữ, xử lý, chu chuyển thông tin giúp con người nhận thức, tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tài nguyên thông tin vào mọi lĩnh vực hoạt động nhằm cải tạo xã hội, cải tạo thiên nhiên. Công nghệ thông tin có các chức năng quan trọng như sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, công trình thiết kế, giáo dục, đào tạo... truyền tải thông tin trên mạng Internet; phát thanh truyền hình, các phương tiện thông tin đại chúng khác...; xử lý thông tin bao gồm: biên tập, trình bày, phát triển phần mềm, xử lý dữ liệu, phân tích hỗ trợ ra quyết định, và lưu giữ thông tin bao gồm: thư viện điện tử, cơ sở dữ liệu... Với những thành tựu và khả năng ứng dụng rộng rãi của công nghệ thông tin như máy vi tính, tia la-de, vi điện tử, viễn thông và mạng Internet..., ngành công nghệ thông tin cùng với các dịch vụ liên quan đang trở thành ngành mang tính chủ đạo trong nền kinh tế. Và ngày nay, khi lượng thông tin ngày càng nhiều, tốc độ chu chuyển thông tin trên mạng nhanh chóng “một ngày bằng 20 năm” như C. Mác đã dự báo thì nước nào làm chủ được thông tin, làm chủ được các công nghệ hiện đại, nước đó sẽ phát triển nhanh và bền vững.

II. Toàn cầu hoá - một xu thế khách quan 

Xu thế toàn cầu hoá đã tạo ra động lực thúc đẩy nền giáo dục phát triển và biến đổi sâu sắc. Tương lai đến với chúng ta nhanh hơn, nhiều đến mức khó tin, sự hình thành một thị trường toàn cầu về việc làm, vốn, công nghệ và đặc biệt là thông tin... đã và đang trở thành hiện thực. 

Toàn cầu hoá là một cuộc phiêu lưu bắt buộc, thật khó cưỡng lại, bởi đó là một xu thế khách quan. Thực ra, toàn cầu hóa cũng không hoàn toàn mới lạ bởi nó đã có rất lâu trong lịch sử. Người ta cho rằng nền kinh tế thế giới đã liên kết với nhau về mặt thương mại từ rất lâu. Tuy nhiên, quy mô của hiện tượng đang xảy ra hiện nay không giống với những gì mà chúng ta từng biết trong quá khứ. Bởi vì, toàn cầu hoá hiện nay đụng chạm đến rất nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội và trực tiếp ảnh hưởng đến con người. 

Nếu như hiện nay có khủng hoảng kinh tế, thì chủ yếu là khủng hoảng thừa chứ không phải thiếu. Trong phần lớn các ngành kinh tế luôn luôn có tình trạng sản xuất thừa, nhưng không có nghĩa là khủng hoảng thừa thì đời sống của mọi người trên thế giới đã quá no đủ, mà chính là sự phân biệt mức sống và khoảng cách giàu nghèo giữa người giàu và người nghèo, giữa nước giàu và nước nghèo đang ngày càng rộng ra. Nếu như có nơi nào đói kém thì vấn đề không phải là thiếu lương thực mà ở chỗ sự phân phối không công bằng trên thế giới, đồng thời nó phản ánh trình độ phát triển không đồng đều ở các quốc gia. Một dấu hiệu hùng hồn của sự dồi dào hiện nay là lạm phát giảm xuống ở các nước phát triển. Thế nhưng bên cạnh những nước giàu có, trên thế giới vẫn tồn tại tình trạng nghèo khổ ở rất nhiều nước nghèo và ngay cả ở nước giàu cũng có một bộ phận người lao động sống rất nghèo khổ. Có người mô tả sự tương phản giàu nghèo trên thế giới hiện nay bằng hình ảnh “tủ chất đầy đồ ăn bên cạnh bát cháo bình dân”. Trước toàn cầu hoá, mối liên kết quốc gia cho phép nhà nước đóng vai trò phân phối lại nhằm giảm bớt sự bất bình đẳng xã hội và tránh rạn nứt xã hội. Nhưng từ khi diễn ra quá trình toàn cầu hoá, việc làm này đã bị giảm thiểu đáng kể, vì bất kỳ chính sách phân phối lại nào cũng đều có thể có hậu quả xấu đến tính cạnh tranh. Do vậy, tầng lớp dưới ở các nước giàu đang chứng kiến thu nhập thực tế của họ giảm xuống một cách đáng kể từ hai thập niên qua.


Bên cạnh sự tương phản giàu nghèo là việc làm và thị trường lao động. Toàn cầu hoá đưa đến sự thất nghiệp, tồn tại hố ngăn cách giữa những người có việc làm được trả lương cao và những người bị gạt ra khỏi các nhà máy, xí nghiệp, đẩy người lao động không có việc làm vào cảnh sống cùng quẫn. 

Bên cạnh mặt tích cực của toàn cầu hoá là tăng cường giao lưu văn hóa, học hỏi kinh nghiệm của nhau, cùng nhau chia sẻ thông tin vào kho tàng tri thức của nhân loại, cùng nhau chia sẻ sự rủi ro... thì mặt trái của nó là sự tương phản giàu nghèo, tình trạng thất nghiệp, tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái, bệnh tật, tất cả đã dẫn đến sự bất bình đẳng trên phạm vi thế giới cũng như trong từng quốc gia. Hố ngăn cách giàu nghèo và sự bất bình đẳng ở các nước tư bản phát triển ngày càng tăng giữa một bên là lớp người ưu tú, có trình độ học vấn cao, được hưởng lương cao, còn bên kia là những người không được học hành, hay nói đúng hơn là không có cơ hội để được học, đang phải hứng chịu mọi hậu quả cạnh tranh trong thị trường lao động. Sự gia tăng của tiến bộ công nghệ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đòi hỏi phải thích ứng thật nhanh chóng với mọi thay đổi và phát triển của xã hội. Bên cạnh đó, toàn cầu hoá đòi hỏi từng cá nhân phải năng động, linh hoạt, có khả năng làm việc theo êkíp, hoà hợp được với những người có tâm tính và quy tắc xử sự khác nhau. Biết giao tiếp bằng các ngôn ngữ khác cũng là thêm một lợi thế. Những tiêu cực do toàn cầu hoá đem lại không phải do bản thân vốn có của nó mà là do nó chịu sự chi phối của một số nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, muốn áp đặt một trật tự thế giới mới, muốn làm bá chủ thế giới, muốn áp đặt một luật chơi có lợi cho Mỹ và cho các nước tư bản phát triển, muốn đồng hoá các nền văn hoá theo văn hóa phương Tây trong khi các nước đang phát triển chưa kịp chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết về kinh tế, chính trị, luật pháp và cả tâm lý nữa. Nhân dân thế giới đang chống lại xu thế toàn cầu hoá là chống lại mặt tiêu cực của nó, chống chủ nghĩa bá quyền nước lớn. Quan điểm của Đảng ta là ủng hộ những mặt tích cực do toàn cầu hoá đem lại, sẵn sàng và chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá và kiên quyết cùng nhân dân thế giới chống lại những mặt tiêu cực của nó. 

Một thực tế nữa là những năm gần đây, trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng thông tin. Cuộc cách mạng này đã làm cho xu thế toàn cầu hoá nhanh chóng trở thành hiện thực trên thế giới. Điều cốt lõi và động cơ chủ yếu để thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá chính là sự phân công lao động thế giới. Để có được nguồn nhân lực có trình độ cao, có khả năng tham gia vào quá trình phân công lao động nói trên thì vấn đề đầu tư vào giáo dục và đào tạo càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết và trong các hoạt động xã hội thì con người cần đầu tư nhiều hơn vào văn hoá phi vật thể, nâng cao các giá trị văn hóa truyền thống, kết hợp hài hoà giữa những giá trị truyền thống và hiện đại để làm cơ sở cho xã hội phát triển bền vững. 

Có thể nói toàn cầu hoá đang đặt ra rất nhiều thách thức đối với các nước đang phát triển

Về kinh tế: Trước hết, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới là sự chuyển hướng nền kinh tế các nước thành nền kinh tế thị trường, còn sự thị trường hoá nền kinh tế thế giới thì biểu hiện ở sự chuyển biến của cơ chế kinh tế, ở sự tăng trưởng liên tục của kim ngạch mậu dịch thế giới và ở phương diện toàn cầu hoá sự phân bố tài nguyên. Tự do hoá thương mại thể hiện trong việc giảm và bãi bỏ thuế quan, tạo điều kiện mở rộng giao lưu hàng hoá, đồng thời cũng đặt các nước vào tình thế phải đối mặt với cạnh tranh hàng hoá từ bên ngoài tràn vào. Đối với các nước có trình độ kinh tế và khoa học và công nghệ thấp, sức ép cạnh tranh này sẽ rất lớn. Nước ta đã quyết định gia nhập các tổ chức khu vực và quốc tế (ASEAN, AFTA, APEC...) và trở thành thành viên tích cực trong cộng đồng kinh tế và thương mại toàn cầu. Một bước tiến quan trọng trong tiến trình này là Việt Nam sẽ trở thành thành viên chính thức của Khu vực Thương mại tự do ASEAN (AFTA) vào năm 2006. Tới thời điểm đó, tất cả các hàng rào thuế quan liên quan đến thương mại trong khu vực sẽ phải giảm xuống mức từ 0% đến 5%. Mốc quan trọng tiếp theo là Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh theo xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. 

Về khoa học – công nghệ: Quá trình toàn cầu hoá kinh tế đã thúc đẩy sự cạnh tranh quyết liệt về khoa học – công nghệ giữa các nước và đặt ra nhiều thách thức lớn trong quá trình giành giật lợi ích kinh tế lớn nhất và chiếm lĩnh vị trí lãnh đạo trong nền kinh tế, chính trị thế giới. 

Thách thức lớn nhất của các nước là phải đạt được tốc độ tăng trưởng cao và sự phát triển đó phụ thuộc vào ba nhân tố quan trọng, đó là nền văn hoá vì sự phát triển, môi trường cho phát triển và trình độ khoa học – công nghệ. Trong quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá, với sự tham gia ngày càng nhiều của các quốc gia lớn, nhỏ vào quá trình liên kết và hội nhập quốc tế về kinh tế, cuộc cạnh tranh để giành những lợi ích kinh tế, chính trị trên cơ sở những lợi thế so sánh càng trở nên quyết liệt hơn. Khoa học – công nghệ là chìa khoá của sự phát triển, do đó, cốt lõi của cuộc cạnh tranh kinh tế là cuộc cạnh tranh gay gắt về khoa học – công nghệ. Nước nào làm chủ được các ngành khoa học – công nghệ mũi nhọn, nước đó sẽ có sức cạnh tranh kinh tế mạnh trên toàn cầu. Tuy nhiên, để có được nền khoa học – công nghệ phát triển, vấn đề cơ bản là phải đầu tư xứng đáng vào giáo dục và đào tạo. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong điều kiện nền kinh tế được toàn cầu hoá và toàn cầu hoá cao độ, sức cạnh tranh của một nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào mức độ và hiệu quả của đầu tư cho giáo dục đào tạo, tức là đầu tư vào tài nguyên con người. 

Trước tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt từ nhiều phía, các nước tư bản phát triển đều ra sức đầu tư vào lĩnh vực giáo dục – đào tạo và nghiên cứu khoa học – công nghệ với những chương trình cơ bản và dài hạn xuyên sang thế ký XXI. Nhật Bản, trước hết là Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế (MITI) cho rằng Nhà nước phải tiếp tục đóng vai trò chủ động thông qua việc khuyến khích phát triển các lĩnh vực khoa học quan trọng đối với việc nâng cao khả năng cạnh tranh toàn cầu của các công ty của Nhật Bản. Các nước Tây Âu cũng đang xúc tiến những chương trình khoa học – công nghệ đầy tham vọng nhằm tiếp tục cải thiện năng lực cạnh tranh của mình. Trước tình hình đó, Mỹ nhận thấy rằng để có thể duy trì vị trí và vai trò lãnh đạo về kinh tế, chính trị, an ninh của Mỹ trên thế giới trong nhiều năm tới khi bước vào thế kỷ XXI, Mỹ cần đi đầu đẩy mạnh nghiên cứ và làm chủ công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ điện tử, tin học và viễn thông, tự động hoá, vật liệu mới, công nghệ sinh học, khai thác đại dương, nghiên cứu vũ trụ và những công nghệ tương lai khác. 

Các nước phát triển thường lợi dụng toàn cầu hoá trong lĩnh vực đầu tư, dịch vụ tài chính, thông tin... để khống chế nền kinh tế thế giới. Vì vậy, các nước đang phát triển có nguy cơ hứng chịu những thua thiệt và bị tụt hậu xa hơn nữa. Để tránh các nguy cơ nói trên, các nước đi sau đều phải tiến hành đổi mới toàn diện, mà trước hết là đổi mới tư duy nhận thức, đổi mới về giáo dục, đổi mới cách quản lý, đổi mới khoa học và công nghệ...; đồng thời phải hoạch định chiến lược linh hoạt để ứng phó với mọi biến động có thể xảy ra, nhất là sự xáo động thường xuyên của thị trường thế giới, những chu kỳ khủng hoảng tài chính, tiền tệ. Đây là một thách thức to lớn và đặt ra những nhiệm vụ nặng nề cho công tác giáo dục và đào tạo, cho các công việc cần phải nghiên cứu và triển khai của hệ thống khoa học – công nghệ nước ta, từ khoa học xã hội và nhân văn đến khoa học kỹ thuật. 

Trong kinh tế nhận thức, cần chủ động sáng tạo mới có thể tạo ra công nghệ hiện đại, có sức cạnh tranh cao và Nhật Bản cho đó là yếu tố quan trọng để có thể thu lợi nhiều nhất. Ở Trung Quốc, khu Phố Đông (Thượng Hải) và khu khai phát kỹ thuật cao Bắc Kinh đã đạt được những khả năng mới trong cuộc cạnh tranh với các nước phát triển trong nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực công nghệ cao. 

Phải phát huy tốt năng lực nội sinh tạo ra khả năng sáng tạo công nghệ làm cơ sở thu hút đầu tư và kỹ thuật từ bên ngoài. Khả năng sáng tạo của các nhà quản lý của các công ty xuyên quốc gia và của các nước đang phát triển là vô cùng quan trọng. Nếu không được chuẩn bị sẵn sàng để có thể là đối tác bình đẳng và tin cậy thì kết quả cuối cùng là mối quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển chỉ là quan hệ chủ - tớ hoặc tan vỡ và các nước đang phát triển luôn chịu thua thiệt. 

Về giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc: Trong bối cảnh thế giới đang diễn ra quá tình toàn cầu hoá một cách nhanh chóng, các siêu cường tư bản chủ nghĩa không những tìm mọi cách buộc các nước khác phải theo trật tự kinh tế do họ đặt ra, phải đi theo quỹ đạo của họ, sẵn sàng trừng phạt nếu không nghe theo, mà còn ra sức áp đặt lối sống và nền văn hoá của họ vào các nước khác. Thông qua mạng Internet và các phương tiện truyền thông khác, các loại thông tin, các sản phẩm văn hoá lan truyền hàng ngày, hàng giờ đến tận hang cùng ngõ hẻm trên khắp thế giới; phần lớn các thông tin là bổ ích, là cần thiết, các nước nhờ đó có thể tiếp thu các tri thức mới, công nghệ mới, tinh hoa văn hoá của các nước khác để phát triển nền văn hoá của mình; nhưng cũng không ít những sản phẩm văn hoá ca ngợi lối sống phương Tây, truyền bá lối sống đồi truỵ, trái với thuần phong mỹ tục của các dân tộc, làm xói mòn bản sắc văn hoá dân tộc. 

Cả thế giới lên án mạnh mẽ những mặt tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa đang làm xói mòn các giá trị đạo đức của nhân loại đã được xây dựng từ hàng chục thế kỷ, làm huỷ hoại môi trường và làm khoảng cách giàu nghèo ngày càng rộng ra... 

Tất cả các nước đều đang phải đối mặt với nguy cơ nền văn hoá bị pha tạp, bị phong hoá, làm mất bản sắc văn hoá dân tộc, hay nói cách khác là các nước đang phát triển đang đứng trước hoạ xâm lăng văn hoá. Một nền văn hoá đã không còn bản sắc thì không thể phát triển được, kéo theo nhiều sự băng hoại khác và cuối cùng dân tộc đó sẽ là một thách thức lớn đang đặt ra trong xã hội thông tin, trong quá trình diễn ra toàn cầu hoá. Nhận thức rõ những tác hại mà toàn cầu hoá có thể đem lại, nhiều nước đã sử dụng nhiều biện pháp để ngăn chặn, nhưng cũng khó mà kiểm soát và ngăn chặn được hết những mặt tiêu cực có thể tràn vào. Phát triển giáo dục, đi đôi với quá trình làm lành mạnh hoá xã hội, là công cụ hữu hiệu chống lại những mặt tiêu cực của quá trình toàn cầu hoá. Các nước ASEAN đã kiến nghị phải kết hợp hài hoà hai chính sách: một là, tự do thông tin và kiểm soát thông tin có chọn lọc; hai là, việc kiểm soát không gây cản trở việc truy cập thông tin đang cần phải được khuyến khích mạnh mẽ. Điều quan trọng nhất là phải giáo dục nhân dân, nâng cao nhận thức của người dân, đồng thời có chính sách gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, phải ra sức xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, nền văn hoá có sức đề kháng với mọi sự xâm thực ngoại lai. Phải tăng cường sức mạnh nội sinh của dân tộc thì mới đứng vững được trong toàn cầu hoá hiện nay. 

Về bảo vệ môi trường: Bảo vệ môi trường, bảo vệ ngôi nhà chung mà loài người đang sinh sống là nhiệm vụ cơ bản, cấp bách và lâu dài của tất cả các quốc gia. Các vấn đề nghiêm trọng mà loài người đang đối mặt như: ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, mất cân bằng hệ sinh thái, mất đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, khả năng mực nước biển dâng lên... Đó là hậu quả của quá trình công nghiệp hoá ào ạt, vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chỉ vì lợi nhuận của các nước công nghiệp phát triển đi trước. Ngày nay, cả thế giới phải có những cố gắng chung và những hành động chung để gìn giữ “ngôi nhà chung” của mình. Sự hợp tác này cũng phải đi đôi với đấu tranh quyết liệt vì nó động chạm đến quyền lợi của mỗi quốc gia. Các nước công nghiệp phát triển phải có trách nhiệm chủ yếu về sự úy thoái môi trường toàn cầu; lẽ ra họ phải có trách nhiệm giúp các nước đang phát triển các phương tiện khoa học công nghệ, tài chính trong việc bảo vệ môi trường toàn cầu. Thế nhưng, họ lại đổ lỗi cho các nước đang phát triển, bắt các nước phải đóng góp ngang nhau; thâm jchí họ khước từ thực hiện nghĩa vụ mà tất cả đã cùng cam kết. Chẳng hạn, Mỹ đã không ký vào Hiệp định Kyoto về khí hậu toàn cầu, trong khi tỷ lệ khí CO2 của Mỹ chiếm đến gần 30% trong tổng lượng CO2 thải ra khí quyển của toàn thế giới. 

Các nước đang phát triển phải gánh vác một trách nhiệm nặng nề trong việc bảo vệ môi trường toàn cầu trong khi những vấn đề môi trường của chính nước mình đang được đặt ra hết sức cấp bách, đòi hỏi phải thay đổi cách sản xuất, cách tiêu thụ, cách tổ chức khu dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng, nếp sống; đòi hỏi phải có tri thức, phải sử dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường. Trong khi đó các nước đang phát triển thiếu vốn, thiếu tri thức, thiếu năng lực khoa học công nghệ, thiếu kinh nghiệm quản lý, chi phí cho bảo vệ môi trường quá hạn hẹp đang rất khó khăn để đối phó với những thảm hoạ về môi trường. Các nước công nghiệp phát triển trong quá trình đổi mới công nghệ đang gia tăng việc thải các công nghệ lỗi thời, gây ô nhiễm sang các nước đang phát triển; các nước đang phát triển chịu một sức ép rất lớn, và thường là phải chấp nhận các công nghệ ấy, và gánh chịu hậu quả nặng nề về suy thoái môi trường và không hiệu quả kinh tế. Không những thế, nhiều nước phát triển còn tìm cách để xuất khẩu các loại chất thải (kể cả chất thải hạt nhân) sáng các nước đang phát triển, như thế họ vừa khỏi tốn chi phí cho việc xử lý các chất thải ấy, lại vừa thu được tiền; đã có nhiều nước đang cho nhập và chịu những hậu quả nặng nề. Nếu không cảnh giác với nguy cơ môi trường bị huỷ hoại và những công nghệ lạc hậu mà các nước phát triển thải ra, thì các nước đang phát triển sẽ có nguy cơ trở thành bãi thải công nghệ của các nước phát triển à là túi đựng những thảm hoạ về môi trường.

Toàn cầu hoá cũng tạo những cơ hội to lớn cho các nước đang phát triển rút ngắn khoảng cách

Có thể thấy ngay rằng, cơ hội lớn nhất là thông qua cuộc cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hoá, các nước đang phát triển có điều kiện tiếp thu và dón đầu được công nghệ hiện đại để áp dụng ngay vào quá trình phát triển kinh tế  - xã hội mà không mất thời gian nghiên cứu và thử nghiệm. Nếu có sự chuẩn bị tốt nguồn lực con người thì đây là một cơ hội to lớn giúp các nước đang phát triển có thể tạo những bứt phá trong một số lĩnh vực khoa học công nghệ hiện đại và tạo những bước tăng trưởng kinh tế ở những ngành có lợi thế cạnh tranh, khắc phục hố sâu ngăn cách giàu nghèo và sự tụt hậu về trình độ phát triển so với các nước công nghiệp tiên tiến. Các nước đang phát triển châu Á có một lợi thế khá nổi trội, đó là nguồn nhân lực dồi dào với trình độ học vấn tương đối khá. Đội ngũ lao động này, nếu được trau dồi thêm năng lực quản lý và tác nghiệp, sẽ trở thành lực lượng chủ lực đưa các nước phát triển theo kịp tiến trình toàn cầu hoá kinh tế hiện nay. 

Toàn cầu hoá tạo điều kiện chuyển giao những thành quả mới mẻ, những đột phá sáng tạo mới về khoa học công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh, đưa kinh nghiệm và kiến thức đến với các dân tộc, các gia đình và mọi người dân, mở đường cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 

Xu thế toàn cầu hoá cho phép các nước chậm phát triển thực hiện chủ trương đa phương hoá quan hệ kinh tế và khoa học công nghệ với thế giới. Trên nền tảng quan hệ kinh tế, các nước chậm phát triển có khả năng chủ động khai thác các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của các cường quốc trên thế giới. 

Xu hướng cấu trúc lại và chuyển dịch cơ cấu ngành đang diễn ra trong nền kinh tế thế giới tạo ra những “khoảng trống” mà các nước chậm phát triển có thể chen chân, hội nhập để tạo lập vị thế mới. Nhìn lại kinh nghiệm tiến hành công nghiệp hoá của các NIC châu Á, có thể thấy rõ việc nắm bắt nhanh nhạy xu thế của bối cảnh quốc tế đã cho phép tạo ra những bước chuyển có tính chất quyết định để đi tới thành công trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nước này. Hiện nay, cơ hội như vậy đang đến với các nước chậm phát triển và các nước đang phát triển trong bối cảnh mới, bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế thế giới cũng như bối cảnh hướng tới một xã hội thông tin, và chúng ta hãy nắm lấy cơ hội “vàng” này nếu chúng ta không muốn tụt hậu xa hơn nữa. 

III. Yêu cầu mới của thị trường việc làm 

Ở các nước đang phát triển và các nước phát triển, số người lao động có trình độ ngày càng tăng. Ở các nước này, những ngành nghề đòi hỏi có trình độ cao tăng lên nhanh chóng. Xu thế chuyển dịch cơ cấu việc làm đang hướng tới khu vực dịch vụ, khu vực công nghệ cao, đồng thời với việc phân cực việc làm theo trình độ đang ngày càng gia tăng: một bên là các hoạt động có hàm lượng tri thức và thông tin cao với mức lương cao, còn bên kia là các hoạt động có hàm lượng cơ bắp cao, mức lương thấp. Trong 15 năm (từ 1986 đến 2001) thực hiện chính sách đổi mới, nhiều việc làm được tạo ra trong khu vực dịch vụ và công nghệ cao như: các ngành ngân hàng, bảo hiểm, buôn bán bất động sản, dịch vụ cho các doanh nghiệp và ở một mức độ nhất định là giao thông, vận tải; các ngành bưu chính viễn thông, tin học điện tử, công nghệ vật liệu mới, hải dương học, khoa học vũ trụ, năng lượng mới... 

Người ta vẫn thường nói công nghệ thông tin và viễn thông là một trong những cuộc cách mạng kỹ thuật lớn chưa từng thấy trong lịch sử mà thế giới đã được chứng kiến trong hai thập kỷ qua. Công nghệ này đã đưa đến hàng loạt sản phẩm mới với chất lượng ngày càng cao, làm giảm chi phí sản xuất và nâng cao đáng kể thành tựu kỹ thuật ở nhiều ngành. Ngành tin học và viễn thông ở các nước OCED (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế) là ngành có việc làm tăng lên với tốc độ cao nhất từ những năm 1980 trở lại đây, nhưng chủ yếu dành cho người có trình độ cao. Nhiều công trình khảo sát cho thấy có sự tương hợp chặt chẽ giữa việc áp dụng công nghệ mới, nhất là tin học, với việc nâng cao trình độ học vấn và trình độ tay nghề đòi hỏi ngày càng cao ở người lao động. Trong ngành tài chính và vận tải, yêu cầu lao động có trình độ cao đang tăng lên mạnh mẽ. Còn lao động trình độ thấp (văn phòng), việc làm cũng có sự thay đổi theo hướng ngày càng giảm số lao động hành chính văn phòng. Ở rất nhiều doanh nghiệp, các nhiệm vụ tương ứng đã được tin học hoá khiến cho việc làm giảm xuống, ví dụ như ở bảo hiểm, số người làm đã giảm ước tới 40%. 

Do các phương tiện và thiết bị tin học của văn phòng ngày càng được sử dụng rộng rãi, nên trình độ của người lao động cũng đòi hỏi phải tăng lên. Ngay trong sản xuất, có rất nhiều công việc truyền thống sử dụng cơ bắp dần dần được thay thế bằng máy móc, nên việc làm đã tương ứng giảm xuống kéo theo một số người lao động không có việc làm. Phần lớn lao động phải được sắp xếp và giả được đào tạo lại để đáp ứng yêu cầu công việc mới; việc áp dụng các quy trình mới, các loại hình tổ chức mới (thường đi đôi với việc áp dụng công nghệ thông tin và viễn thông) đòi hỏi người lao động phải có trình độ hơn, được thông tin tốt hơn. 

Ở các nước phát triển, công nghệ thông tin và viễn thông đang trở nên ngày càng phổ biến, được áp dụng trong tất cả các ngành công nghiệp và dịch vụ. Cơ cấu việc làm cũng có những thay đổi sâu sắc theo hướng sử dụng lao động có trí tuệ cao ngày càng tăng. Có nhiều việc làm mất đi do đổi mới công nghệ và sắp xếp lại sản xuất, nhưng lại có nhiều công việc mới được tạo ra do xuất hiện một số ngành sản xuất mới có hàm lượng trí tuệ cao. Vị trí làm việc “ảo” ra đời, không cần phải tiếp xúc trực tiếp trong công việc và giao dịch. Tuy chưa phổ biến nhưng rồi hình thức làm việc này sẽ mở rộng trong tương lai, đòi hỏi các phẩm chất mới – cơ động và chủ động ở người lao động trong tương lai. 

Công nghệ thông tin và viễn thông chắc chắn còn tiếp tục được phổ biến rất nhanh chóng trong những năm tới. Sự biến đổi thường xuyên và nhanh chóng đó sẽ làm cho trình độ hiện nay của người lao động có nguy cơ nhanh chóng bị lỗi thời. Do vậy, mọi người phải liên tục học tập và học tập suốt đời. 

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuậ và công nghệ trên thế giới đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá Nguy cơ tụt hậu của các nước đnag phát triển sẽ lớn hơn nếu không có một chiến lược đúng đắn để phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao có thể làm chủ và sáng tạo những công nghệ mới, cách quản lý mới, và chuẩn bị sẵn sàng đón thời cơ để có thể tận dụng những thế mạnh và kinh nghiệm của các nước phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển. Một số nước - những nước công nghiệp mới – đã biến những công nghệ cao thành một trong những công cụ tăng trưởng và có sức cạnh tranh cao. Ở các nước Đông Á, yêu cầu nhân lực có trình độ về điện tử mũi nhọn đã tăng lên nhanh chóng. Công nghệ thông tin và viễn thông cũng có rất nhiều tiến bộ ở các nước đang phát triển, mặc dù trình độ của đại đa số nhân lực còn thấp, đội ngũ chuyên gia làm công nghệ tin học còn rất ít. Nhưng muốn áp dụng thành công các quy trình mới, các loại hình tổ chức mới, vẫn cần phải có những năng lực cần thiết, đó là nguồn lực con người có trình độ cao. Điều đó muốn nói, trong lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin, các nước đang phát triển phải nhanh chóng xây dựng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài đáp ứng yêu cầu mới trong nền kinh tế tri thức. 

Như đã trình bày, công nghệ mới và các hình thức tổ chức lao động mới kéo theo sự thay đổi về nhu cầu đối với người lao động có trình độ cao. Hiện nay, các doanh nghiệp đều cần những lao động biết học tập và biết thích nghi với sự biến đổi của cơ chế thị trường. Trình độ học vấn cao là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là người lao động phải làm chủ được tri thức, nhanh chóng áp dụng có hiệu quả những tri thức mà mình đã học vào sản xuất. Điều đó cần có sự vưngc vàng trước những biến động của xã hội, cần có khả năng thích nghi và sáng tạo - cả hai yêu cầu này rất quan trọng để tạo vị thế cho người lao động có trình độ học vấn cao đứng vững trong cơ chế thị trường. Được chuẩn bị tốt về mặt trí tuệ và về thái độ nghề nghiệp để tiếp thu công nghệ ngày một tiên tiến, đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật có trình độ học vấn cao ngày càng thể hiện là khâu then chốt, là nòng cốt của nguồn nhân lực, quyết định sự phát triển đất nước nhanh và bền vững. Thêm vào đó, xu hướng hiện nay là đa năng, tức là kết hợp giữa năng lực kỹ thuật, khả năng quản lý và tài năng doanh nghiệp (ở đây muốn nói đến khả năng thích nghi và kỹ năng ứng xử trong xã hội), ba yếu tố này tạo nên mô hình của người lao động mới. 

Đối với công nhân trực tiếp sản xuất, họ chịu ảnh hưởng của việc phát triển công nghệ mới và các hình thức tổ chức lao động mới. Chưa có số liệu đầy đủ và chính xác về vấn đề giảm bớt việc làm, nhưng bản chất chung của việc làm đang thay đổi và xu hướng là nâng cao trình độ và đa năng. Việc nâng cao trình độ tay nghề đồng thời kéo theo sự thay đổi về cơ cấu việc làm đang diễn ra theo xu hướng: việc làm có trình độ thấp dần dần bị thay thế bởi việc làm có trình độ cao. Trong hệ thống sản xuất mới, người công nhân vừa trực tiếp sản xuất vừa đảm nhận các chức năng của nhà phân tích, nhà quản lý, do đó, đòi hỏi khả năng trí tuệ của họ ở mức cao hơn nhiều so với chức năng khi họ chỉ là người thừa hành. Đối với người lao động hành chính, người ta không thấy nổi lên xu hướng rõ nét về sự khác biệt trong công việc ở nước này so với nước kia, nhưng trong một số doanh nghiệp, nhất là khu vực dịch vụ, người ta nhận thấy có sự thay đổi về bản chất lao động, bên cạnh năng lực kỹ thuật nó còn đòi hỏi khả năng chẩn đoán và năng khiếu quan hệ. Tóm lại, thị trường việc làm hiện nay đã có nhiều thay đổi theo hướng tăng nhanh số lượng việc làm đòi hỏi có trí tuệ cao và tập trung nhiều ở khu vực dịch vụ và khu công nghệ cao. Đây là thách thức rất lớn đối với nền giáo dục của bất kỳ một quốc gia nào khi đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 

IV. Sự xuất hiện kinh tế tri thức

1. Khái niệm về kinh tế tri thức 

Trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX xuất hiện một hình thái kinh tế mới của thời đại thông tin, đó là kinh tế tri thức. Nền kinh tế này xuất hiện đã tạo ra những biến đổi to lớn trong mọi mặt hoạt động của con người và xã hội: tạo ra cơ sở hạ tầng của xã hội mới – xã hội thông tin, khác hẳn các nền kinh tế chủ yếu dựa vào sức người và tài nguyên trong xã hội nông nghiệp và xã hội công nghiệp. Kinh tế tri thức về cơ bản dựa trên cơ sở công nghệ cao và tri thức, đó là nét đặc trưng rất tiêu biểu của nền văn minh thông tin - sản phẩm của cách mạng thông tin, cách mạng tri thức. Nói đến tri thức – sáng tạo tri thức; phổ biến, truyền thụ tri thức, học tập và lĩnh hội tri thức; ứng dụng tri thức – không thể không nói đến giáo dục – đào tạo và khoa học, công nghệ. Bởi nó chính là phương tiện để truyền đạt tri thức, sang tạo ra tri thức mới, ứng dụng tri thức vào cuộc sống. 

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) của Liên hợp quốc định nghĩa kinh tế tri thức là kinh tế được xây dựng trên cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin. Nói đơn giản, đó là nền kinh tế dựa vào tri thức. “Các ngành sản xuất và dịch vụ mới do công nghệ cao tạo ra như các dịch vụ khoa học công nghệ, các dịch vụ tin học, các ngành công nghiệp công nghệ cao... được gọi là ngành kinh tế tri thức. Các ngành truyền thống như công nghiệp, nông nghiệp, nếu được cải tạo bằng công nghệ cao, mà giá trị do tri thức mới, công nghệ mới đem lại chiếm trên hai phần ba tổng giá trị, thì những ngành ấy cũng là ngành kinh tế tri thức. Nền kinh tế gồm chủ yếu các ngành kinh tế tri thức gọi là kinh tế tri thức”. 

2. Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức 

Những năm cuối của thế kỷ XX, một số nước tư bản phát triển đã có những bước phát triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ hiện đại, nhờ đó đã duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong một thời gian dài. Một số nước đang phát triển như Extônia, Mali, Ailen... cũng đang tận dụng cơ hội phát triển nhanh công nghệ thông tin để đẩy nhanh tốc độ phát triển khoa học công nghệ làm đòn bẩy cho phát triển kinh tế - xã hội. Thực tế hiện nay, khoảng cách lạc hậu của các nước đang phát triển so với các nước tư bản phát triển rất cách xa nhau. Báo cáo của Liên hợp quốc cho thấy sự bất bình đẳng và sự chênh lệch giàu nghèo giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển trên toàn thế giới đang gia tăng nhanh chóng: năm 1997 chênh lệch giữa 20% người giàu nhất với 20% người nghèo nhất thế giới là 74 lần (chỉ số này năm 1990 là 60; năm 1960 là 30; năm 1913 là 11; năm 1870 là 7; năm 1820 là 3). Thu nhập bình quân đầu người của nước giàu nhất (Thuỵ Điển – 40.800 USD) so với nước nghèo nhất (Êtiôpia – 100 USD) hiện nay là 400 lần (đầu thế kỷ XX chênh lệch này không quá 10 lần), đầu tư trực tiếp 68% trong tay 20% người giàu, 20% người nghèo chỉ chiếm 1%; 20% dân số thế giới sống trong các nước giàu chiếm 86% GDP của thế giới, đại diện cho 93% sử dụng Internet, 82% thương mại thế giới; trong khi đó 20% dân số sống ở các nước nghèo chỉ chiếm 1% GDP thu nhập của thế giới, 0,2% người được sử dụng Internet và 0,1% thương mại thế giới. Nguyên nhân chủ yếu là do các nước phát triển nắm vốn, nắm tiềm lực khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, do đó đã không ngừng phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao, mở rộng và chiếm lĩnh thị trường thế giới, khai thác tối đa và bóc lột nguồn nhân lực và tài nguyên ở các nước đang phát triển, vì vậy, đã tạo ra sự chênh lệch lớn như vừa nêu trên. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, xu thế toàn cầu hoá là một tất yếu khách quan và nhân loại muốn hay không cũng phải đối mặt với kinh tế tri thức. Những đặc trưng của kinh tế tri thức là thị trường “chất xám” mà con người là vốn quý nhất, nhiều hoạt động kinh tế đã được số hoá và vận hành trên các xa lộ thông tin, sự chu chuyển thông tin trên các mạng máy tính sẽ trở thành nguồn sống của sự tăng trưởng kinh tế đối với tất cả các nước; những sán phẩm làm ra ngày càng có hàm lượng trí tuệ cao. Khoa học công nghệ sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển lên một tầm cao mới (khi đó khoa học và công nghệ sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, như C. Mác đã dự báo), kéo theo quan hệ sản xuất cũng thay đổi, quan niệm về sở hữu cũng thay đổi (trước kia chúng ta quan niệm sở hữu là sở hữu vật chất về tư liệu sản xuất, nay là cả sở hữu trí tuệ), làm thay đổi cả quan niệm về quản lý (trước kia là quản lý theo thứ bậc, nay là cả quản lý theo mạng). Trong kinh tế tri thức, nguồn lực con người là yếu tố chủ yếu cạnh tranh trong thị trường, ưu thế về tri thức ở mỗi quốc gia sẽ dần dần thay thế cho quan niệm ưu thế về vốn, nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ va kh đó các nước chậm phát triển thiếu vốn, thiếu tri thức tiên tiến sẽ ngày càng tụt hậu xa hơn so với các nước phát triển. Để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tụt hậu, các nước đang phát triển cần sớm có một chiến lược đúng đắn để phát triển nguồn lực con người có trí tuệ cao và phát triển các công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin. 

Dự báo thế kỷ XXI, cách mạng khoa học – công nghệ còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thể hiện rõ nét trong các lĩnh vực: công nghệ tin học, công nghệ phỏng sinh học, công nghệ gien, công nghệ nanô, công nghệ lượng tử, công nghệ vật liệu mới, công nghệ viễn thông, năng lượng mới, công nghệ vũ trụ, công nghệ hải dương học, v.v... Sự phát triển của các công nghệ mới này sẽ làm cho thế giới biến đổi nhanh chóng tạo ra năng suất lao động rất cao, lực lượng sản xuất phát triển mạnh không ngừng kéo theo quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo hướng quốc tế hoá ngày càng tăng để phù hợp với xu hướng quốc tế hoá về lực lượng sản xuất và tư liệu sản xuất. Lúc đó, của cải vật chất làm ra “dào dạt” (như C. Mác đã dự báo), y học hiện đại phát triển cao sẽ giải quyết được nhiều bệnh nan y như AIDS, ung thư, tim... và tuổi thọ của con người sẽ được nâng cao. Các phương tiện và điều kiện phục vụ con người ngày càng tiện lợi và hiện đại, có thể đáp ứng như cầu cho mỗi cá nhân. Khái niệm về không gian và địa điểm của thị trường sẽ mất dần và tiến tới toàn thế giới sẽ là một thị trường. Cơ cấu ngành nghề, tỷ trọng trong các lĩnh vực kinh tế sẽ có bước thay đổi theo hướng ngành dịch vụ ngày càng tăng. Trong những năm gần đây, thế giới đang tập trung chú ý nhiều đến phát triển nguồn nhân lực, phát triển nông thôn, cùng nhau đấu tranh chống bệnh tật, nghèo đói, bảo đảm an toàn xã hội và bảo vệ môi trường, đây là một xu hướng hết sức tiến bộ nhằm tiến tới một thế giới ngày càng tốt đẹp hơn (thế giới đại đồng). Các nước ASEAN đang quyết tâm tham gia kỷ nguyên công nghệ thông tin, phát triển khoa học công nghệ hiện đại trên tinh thần vừa hợp tác vừa cạnh tranh. Những xu thế trên sẽ tạo cho Việt Nam có nhiều thuận lợi, nhưng cũng nhiều khó khăn và thách thức mới. Chúng ta có nhiều ưu thế về nguồn lực con người, đó là: mặt bằng dân trí của chúng ta tương đối cao (94% người biết chữ) so với các nước đang phát triển, kể cả các nước hơn ta về bình quân thu nhập; chỉ số thông minh (IQ) của người Việt Nam chúng ta tương đối cao, điều này được thể hiện qua các kỳ thi quốc tế, các em học sinh chúng ta đạt được nhiều giải cao. Thực tế đã chứng minh số người Việt Nam ở nước ngoài trong các ngành công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin, chiếm con số khá đông. Một số ngành trong nước có sử dụng công nghệ cao như bưu chính viễn thông, năng lượng, ngân hàng, tài chính, dầu khí, cầu đường... đã nhanh chóng nắm bắt và làm chủ công nghệ hiện đại, dần dần đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Những ưu thế ấy sẽ tạo thế và lực cho chúng ta tận dụng các cơ hội thuận lợi của một nước đang phát triển đi sau tiếp thu khoa học, công nghệ hiện đại, những kinh nghiệm quản lý tiên tiến, những tinh hoa tri thức của nhân loại để đi tắt đón đầu, nhanh chóng đi thẳng vào một số công nghệ mới hiện đại, mở rộng thị trường, tìm kiếm thêm đối tác làm ăn, thu hút thêm nhiều nguồn vốn bằng cách tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi, chuẩn bị nguồn nhân lực được đào tạo cơ bản có chất lượng cao có thể đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại, từ đó phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển kinh tế  - xã hội, rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với các nước phát triển. 

Từ sự phân tích ở trên cho thấy, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn, đó là kinh tế tri thức mới bắt đầu xuất hiện, nhiều nước mới bắt đầu tiếp cận nền kinh tế ấy, do đó, Việt Nam đi vào kinh tế tri thức không phải là muộn và phù hợp với ưu thế của con người Việt Nam là thông minh và khéo léo. Nếu chúng ta bỏ lỡ cơ hội này thì chắc chắn khoảng cách tụt hậu của chúng ta ngày càng cách xa hơn so với các nước phát triển, kể cả các nước trước kia cũng như chúng ta. Nhưng chúng ta cũng đang đứng trước một thách thức lớn, đó là tỷ lệ nguồn nhân lực có trình độ cao của chúng ta còn thấp, số lao động được qua đào tạo còn ít, thiếu vốn, thiếu công nghệ hiện đại, bên cạnh đó một số nước phát triển đã vượt xa chúng ta về nhiều mặt và không muốn các nước đang phát triển vươn lên. 

Kinh nghiệm của một số nước đang phát triển đã thu được nhiều thắng lợi trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội những năm qua (các NIC) cho thấy khi biết tận dụng cơ hội để phát triển công nghệ thông tin và các công nghệ hiện đại, đi ngay vào những ngành kinh tế mũi nhọn mà các nước đó có lợi thế thì sẽ nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế thế giới, biết phát huy nội lực của cả dân tộc để phát triển kinh tế, xã hội thì sẽ đưa đất nước nhanh chóng hoàn thành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với các nước phát triển. 

Trong quá trình lao động sản xuất, tri thức con người được mở mang, khoa học và công nghệ phát triển, nảy sinh các sáng chế phát minh, dẫn tới sự cải tiến, đổi mới công cụ và phương pháp lao động, nâng cao năng suất lao động, làm cho lực lượng sản xuất phát triển. Mỗi khi lực lượng sản xuất phát triển lên một trình độ mới, mang tính chất mới, thì nó đòi hỏi quan hệ sản xuất phải thay đổi cho phù hợp, đi đôi với những thay đổi trong đời sống tinh thần, chính trị của toàn xã hội, hình thái kinh tế xã hội chuyển lên một bước cao hơn. Lịch sử phát triển xã hội loài người đã trải qua nhiều bước ngoặt, chuyển tiếp từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái xã hội cao hơn, bắt nguồn từ sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất, dẫn tới cách mạng xã hội với những biến đổi to lớn về chính trị, xã hội, thiết chế... 

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại phát triển vô cùng mạnh mẽ, cùng với cách mạng thông tin và kinh tế tri thức đang làm biến đổi sâu sắc lực lượng sản xuất, tạo tiền đề cho sự phát triển mới về năng suất, chất lượng và hiệu quả ở mức cao hơn; trình độ xã hội hoá ở một tầm cao mới. Sự nhảy vọt về phát triển lực lượng sản xuất chắc chắn sẽ gây ra những biến động to lớn, sâu sắc đến mọi mặt đời sống nhân loại trên toàn hành tinh, một cuộc cách mạng xã hội rộng lớn thay thế những quan hệ xã hội đã lỗi thời bằng những quan hệ tiến tiến, phù hợp. Sự chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp là sự chuyển từ lao động thủ công sang lao động máy móc, từ kinh tế lao động sang kinh tế tài nguyên. Sự chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức là sự chuyển từ nền kinh tế dựa vào lao động và tài nguyên sang nền kinh tế dựa vào trí tuệ, mà con người là yếu tố quan trọng nhất. 

Xu thế phát triển này không nằm ngoài dự đoán của C. Mác: “Tri thức sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”; “khoa học trực tiếp làm ra sản phẩm”; “xuất hiện công nhân khoa học”; “giá trị của lao động cơ bắp trong sản phẩm làm ra sẽ còn là cực nhỏ”... Những dự báo của C. Mác ngày nay đang từng bước trở thành hiện thực. 

Kinh tế tri thức đã bắt đầu xuất hiện từ hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX. Các hoạt động kinh doanh, thương mại, cách tổ chức sản xuất, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, vị trí con người trong sản xuất... đều có những thay đổi to lớn. Tri thức và công nghệ đã trở thành yếu tố quyết định nhất của sản xuất, quan trọng hơn so với vốn, tài nguyên và lao động. Nhiều khái niệm đã thay đổi, nhiều quy tắc hoạt động kinh tế trước đây không còn phù hợp nữa; đã hình thành những luật chơi mới đòi hỏi tốc độ, sự linh hoạt, sự đổi mới và sức sáng tạo.

Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra việc làm và của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống. Kinh tế tri thức dựa trên cơ sở khoa học công nghệ tiên tiến và mạng xa lộ thông tin hiện đại, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, tốc độ tăng trưởng cao, dịch chuyển nhanh nhiều loại cơ cấu: kinh tế, lao động, việc làm, cơ cấu giai cấp... và xã hội không ngừng đổi mới. Song, nó cũng mang nhiều tính rủi ro và luôn đặt ra nhiều thách thức mới. Cơ cấu lao động thay đổi rất lớn; người lao động trực tiếp bằng cơ bắp giảm đi, người làm các công việc xử lý thông tin, điều khiển, kiểm soát, làm việc ở văn phòng tăng lên: công nhân áo trắng nhất là công nhân trí thức, chiếm đa số trong lực lượng lao động. Sản xuất công nghệ cao, công nghệ phần mềm sẽ trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh công nghệ - doanh nghiệp tri thức mọc lên như nấm. Các khu côn

Lưu trữ

Sổ liên kết

Nguồn cấp tin

Viện nhân tài CHC

Đăng ký nhận tin
 
Tổng số lượt xem trang
5707657
Moonshop.vn