Phát triển giáo dục và đạo tạo nhân tài - Chương III

Đăng bởi: AdministratorIn

Trong hoàn cảnh nước ta còn rất nhiều khó khăn, yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đối với chúng ta rất lớn và cấp bách. Muốn đi tắt, đón đầu, muốn nhanh chóng đuổi kịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, thì con đường tốt nhất để chúng ta có thể thực hiện là “phát triển giáo dục - phát triển toàn diện con người”.

Chương III. Những vấn đề đặt ra đối với giáo dục của Việt Nam trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI. 

I. Đối với giáo dục

1. Đổi mới tư duy về giáo dục 

Cùng với sự ra đời của kinh tế tri thức người ta phân biệt rõ ba phạm trù dữ liệu, thông tin và tri thức trong nền kinh tế mới. Kinh tế tri thức, thời đại thông tin đòi hỏi phải có một cách nhìn mới đối với giáo dục, đề xuất ra các phương hướng mới để phát triển giáo dục. Theo Stan Đêvít và Gim Bốtkin có thể hiểu: 

- Dữ liệu là những khối cơ bản trong kinh tế thông tin, 
- Thông là dữ liệu được sắp xếp thành mẫu hình có ý nghĩa, 
- Tri thức là áp dụng và sử dụng một cách có ích các thông tin. 

Như vậy, vấn đề đặt ra là tri thức phải thành kỹ năng, tri thức phải thành trí lực, và suy rộng ra dân trí phải trở thành nhân lực, và nhân tài phải là một bộ phận chất lượng cao của nhân lực. Đó là hướng tổng quát nhất của nền giáo dục đi vào phục vụ kinh tế tri thức. Ở đây, xin nhấn mạnh một ý về vai trò cực kỳ quan trọng của giáo dục đối với kinh tế tri thức nói riêng và đối với thời đại thông tin nói chung. Ông Risác Rilây, Bộ trưởng Giáo dục Mỹ trong bài "Một pô ảnh chụp chớp nhoáng nền giáo dục Mỹ" đăng trong Tạp chí Điện tử tháng 6-2000 đã viết: phải nâng cao vị trí của giáo dục, giáo dục quyết định sức mạnh của nước Mỹ, sự thịnh vượng của nước Mỹ và tương lai tươi sáng của nước Mỹ. Bản tổng kết của Uỷ ban Giáo dục đi vào thế kỷ XXI do UNESCO tổ chức, ông Giắc Đờlo làm chủ tịch, hoàn thành năm 1995 đã lấy tên "Giáo dục là của cải nội sinh", tức là kết quả giáo dục đối với mỗi người phải thành nội lực của mỗi người, và hơn nữa nội lực này phải có khả năng tạo ra của cải, phúc lợi cho mỗi người và cả xã hội. Báo cáo này nêu ra nguyên lý "học để biết" phải cùng với "học để làm", nói theo ngôn ngữ của lý luận về kinh tế tri thức, là giáo dục phải tạo nên vốn dữ liệu và phải chuyển tải thành thông tin, thành tri thức, tức là thành công nghệ, vào sản xuất. 

Đây là một quan niệm mới về tri thức, khác với cách hiểu tri thức trước đây chỉ là tri thức sách vở của nền "giáo dục hư văn", nền giáo dục khoa cử theo kiểu cổ xưa cũ kỹ đang thịnh hành ở nước ta. Với kinh tế tri thức, giáo dục thông qua phạm trù tri thức đối với mỗi người, cũng như đối với cộng đồng, với xã hội phải đem lại một giá trị thực, và hơn thế nữa, một giá trị sống còn. Nhưng nói như vậy hoàn toàn không có nghĩa là coi thường tri thức sách vở. Ngược lại, phải bắt đầu từ đây, nhưng tri thức sách vở trong sứ mệnh phục vụ kinh tế tri thức mới được coi là dữ liệu. Nền giáo dục trong thời đại kinh tế tri thức không dừng ở đấy, mà phải tạo ra giá trị mới - giá trị thông tin, giá trị công nghệ - từ đó mới có giá trị vật chất, giá trị tinh thần cho cuộc đời, cho con người. Suy rộng ra, thời đại mới với kinh tế tri thức đòi hỏi một cách tiếp cận mới đối với giáo dục và đào tạo. Ở Mỹ có ý kiến lấy cách tiếp cận "văn hoá tri thức" như Giôdép Stailai đã đề xuất ("kinh tế tri thức"). Cách tiếp cận này khẳng định "vai trò trung tâm của tri thức và giáo dục nói chung và của khoa học, công nghệ nói riêng". Vai trò đó thể hiện ở chỗ phải làm cho "những tiến bộ trong ý tưởng thành sản phẩm mới và các hoạt động kinh doanh mới" và "trọng tâm ở đây là nhằm vào sự sáng tạo và sự tạo ra của cải". Nền giáo dục ngày nay phải chuyển tri thức thành trí lực và phương pháp luận tổng quát chỉ đạo sự phát triển giáo dục - đào tạo là cả dân trí và nhân tài phải trở thành nhân lực trên cơ sở giáo dục nhân cách. 

Đi vào kinh tế tri thức người ta nói đến yêu cầu "phải định hình lại giáo dục", thậm chí phải có "một cuộc cách mạng trong giáo dục"; cũng có người muốn dùng một tên gọi quen thuộc hơn, khiêm tốn hơn: cải cách giáo dục hay đổi mới giáo dục, như Giôn Gútlết, giáo sư công huân Đại học California Los Angeles và Đại học Washington, trả lời phỏng vấn về giáo dục thế kỷ XXI, đăng trên Chân trời giáo dục, tháng 9-1999. Theo xu thế đổi mới tư duy, Trung Quốc đề ra năm phương hướng chỉ đạo phát triển giáo dục: hiện đại hoá, hướng ra thế giới, hướng tới tương lai, nâng cao tố chất con người và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Hay ở Pháp đề ra 49 nguyên tắc rất cụ thể phát triển giáo dục: chú trọng giáo dục óc phê phán, chương trình các môn học ở phổ thông phải đi theo hướng chuyên môn hoá cao kết hợp với nghề nghiệp ở giai đoạn cuối, trên cái nền văn hoá chung, chú trọng giáo dục hướng nghiệp, giáo dục gắn bó với việc làm, tăng cường phát triển trung học và cao đẳng nghề, v.v... Mỹ có 10 tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục do Tổng thống công bố: tăng cường dạy tiếng mẹ đẻ ở cấp tiểu học, toán ở phổ thông, mọi học sinh đạt chuẩn kiến thức, cha mẹ vào cuộc, an toàn, kỷ luật, không có ma tuý trong trường, duy trì giá trị Mỹ, giáo dục cho mọi người, hiện đại hoá cơ sở vật chất, v.v...

2. Giáo dục suốt đời và phổ cập công nghệ thông tin 

Để đại trà hoá phương pháp học tập cá thể một cách tích cực, sáng tạo, hứng thú trong thời đại thông tin và kinh tế tri thức, phải hết sức coi trọng môn tin học và công nghệ thông tin, qua đó đi đến các công nghệ cao khác như: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới... 

Trong thời đại thông tin, lượng thông tin ngày một nhiều hơn (lượng thông tin của loài người tăng gấp đôi trong bảy năm), biến đổi cực kỳ nhanh chóng (theo các nhà nghiên cứu Mỹ, nhiều tri thức học năm thứ nhất đến năm cuối khoá đã trở thành lạc hậu), vai trò của tri thức ngày càng hơn, quyết định hơn đối với phát triển con người, phát triển giáo dục, phát triển xã hội - kinh tế. Cho nên quan điểm giáo dục suốt đời do UNESCO đề ra từ năm 1972 ngày càng trở thành một quan điểm chủ đạo của nền giáo dục phục vụ sự phát triển kinh tế tri thức. Tư tưởng đó đã được Uỷ ban Giáo dục đi vào thế kỷ XXI của UNESCO khẳng định lại một lần nữa như là một tư tưởng chỉ đạo sự phát triển giáo dục - đào tạo trong thời đại ngày nay; có thể nói một cách mạnh mẽ rằng thế kỷ XXI là thế kỷ của giáo dục thường xuyên. Giáo dục suốt đời đi liền với phong trào giáo dục cho mọi người mà Diễn đàn Giáo dục thế giới vừa họp ở Đaca, Xênêgan, tháng 4-2000, đã đề ra chương trình khung hành động về giáo dục cho mọi người trong thập kỷ tới (2001-2010). 

Nền kinh tế tri thức đòi hỏi mỗi người phải luôn luôn bổ sung tri thức mới, và trong thời đại thông tin có cơ sở vật chất để làm việc đó. Theo Tuần báo Giáo dục Mỹ (tháng 9-1999) và Thông tin thống kê giáo dục (1999) của Bộ Giáo dục Mỹ, số lượng máy vi tính cho học sinh trung học từ năm 1992 đến năm 1999 đã tăng gấp 3 lần: từ 19 học sinh/ 1 máy lên 6 học sinh/1máy(4), đến năm 1999 khoảng 90-95% tổng số trường học của Mỹ đã nối với mạng Internet, trong đó từ 51-63% số lớp đã nối mạng Internet. Và đối với học sinh, giá sử dụng Internet được giảm 90%. Nhiều học sinh có điều kiện học tập theo phương pháp cá thể, cơ sở ban đầu để hình thành và phát triển khả năng và phương pháp tự học suốt đời, coi đây là một “văn hoá học tập mới” - văn hoá học tập từ chỗ thụ động tiếp thu tri thức sang chỗ tự mình kiến tạo tri thức mới cho bản thân, học tập một cách hứng thú, vui vẻ, chủ động(5). Văn hoá học tập mới này chính là khả năng đại trà hoá phương pháp cá thể, phổ cập phương pháp dạy và học một cách tích cực mà lâu nay các nhà giáo dục học đã nói đến nhiều, nhưng mới chỉ có một số ít người học thực hiện được. 

Để đại trà hoá phương pháp học tập cá thể một cách tích cực, sáng tạo, hứng thú trong thời đại thông tin và kinh tế tri thức, phải hết sức coi trọng môn tin học và công nghệ thông tin, qua đó đi đến các công nghệ cao khác như: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới... Mục tiêu cụ thể là làm sao mọi học sinh phải tiếp cận được với máy tính (“Digital divide”). Quá trình giáo dục ngày nay không phải dừng ở chỗ làm sao có được các dữ liệu cơ bản, mà phải chuyển thành kỹ năng, thành tay nghề và cuối cùng là tạo ra các sản phẩm có giá trị ngày càng cao. Đó là tinh thần cơ bản của phổ cập công nghệ thông tin trong giáo dục - đào tạo trong thời đại kinh tế tri thức, và đối với mỗi con người phải học suốt đời thì mới đạt được yêu cầu này. Cho nên, ngay từ  giáo dục trung học phổ thông đã phải hết sức chú ý tới giáo dục hướng nghiệp và cả giáo dục nghề nghiệp. Hêđơrích Smít(6) đã phân tích ba mô hình trường trung học của ba nước Mỹ, Nhật, Đức. Ông đã phê phán nền giáo dục Mỹ và đưa ra nhận xét về những điểm mạnh và thành công của mô hình Đức - mô hình “hệ thống giáo dục “kép” kết hợp giảng dạy ở lớp học với học nghề tại cơ sở sản xuất”. Đối với 2/3 số thanh thiếu niên Đức từ 16 đến 19 tuổi sau khi học xong lớp 10 đều tham gia chương trình học nghề trong ba năm. Ông cũng nhận xét rằng “trường trung học Nhật đang đào tạo và rèn luyện một đội ngũ để tiến hành cạnh tranh toàn cầu”, đội ngũ này gồm các em “rất có kỷ luật, nắm vững vấn đề và các thông tin, có tay nghề cao trong nhiều lĩnh vực”. Bài học này rất có ý nghĩa thời sự cho chúng ta trong quá trình đổi mới giáo dục hướng tới tương lai. 

Trong các môn học ở một số nước đã đi vào kinh tế tri thức, như nước Mỹ chẳng hạn, bên cạnh môn tin học, họ rất chú trọng tới các môn hình thành và phát triển các năng lực chung, các kỹ năng cơ bản (đa năng) có thể ứng dụng vào nhiều lĩnh vực hoạt động, trong đó rất chú ý tới các kỹ năng sống và các kỹ năng xã hội, để phát triển người. Đó là các môn học huấn luyện cho học sinh có tư duy mạch lạc, khả năng biểu đạt thông tin. Đồng thời rất chú ý hình thành hệ thống thái độ của con người với môi trường sống, con người với xã hội, và đặc biệt, thái độ đối với bản thân, trong đó rất chú ý giáo dục lòng tự tin, tụ lý giải các vấn đề của đời sống, khả năng thích nghi với xã hội. Các hệ thống thái độ này chính là nhân cách với nghĩa hẹp là đạo đức. Mục tiêu cuối cùng của giáo dục thời nay, nói một cách hết sức ngắn gọn, là đạo đức và tay nghề.

Thời đại thông tin, kinh tế tri thức tạo ra những biến đổi sâu sắc và nhanh chóng (đôi khi người ta nói thời đại của tốc độ, và cả cường độ nữa), cho nên giáo dục - đào tạo phải nhằm mục tiêu phát triển toàn diện con người một cách bền vững. Vì vậy, ở một số nước đã bắt đầu dạy tương lai học, điều khiển học, phân tích giá trị, v.v... Nhiều nước rất chú ý tới việc tăng cường cho học sinh năng lực giao tiếp, kể cả năng lực giao lưu với nước ngoài, giáo dục cho học sinh, sinh viên có văn hoá ứng xử. Trong công việc chính của nền giáo dục Mỹ hiện nay, theo trình bày của ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục, có một công việc là làm sao để học sinh, sinh viên phải biết ít nhất một ngoại ngữ (khẩu hiệu của họ là “Tiếng Anh + một ngoại ngữ”) và học tập tìm hiểu các nền văn hoá của các nước khác. Trong thập kỷ vừa qua UNESCO rất chú ý khuyến cáo các nước phải đặc biệt quan tâm đến giáo dục quốc tế (giáo dục hoà bình, hữu nghị, hợp tác...), giáo dục văn hoá khoan dung (lấy năm 1995 là năm khoan dung), văn hoá hoà bình (lấy năm 2000 là năm văn hoá hoà bình), đề cao tư tưởng cùng coi trọng tất cả các nền văn hoá, văn minh của các dân tộc (năm 2001 sẽ tổ chức cuộc gặp gỡ của các nền văn hoá), v.v... Nền giáo dục nước nhà đang phấn đấu tăng cường giáo dục truyền thống dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc để tồn tại trong thế giới toàn cầu đẩy cạnh tranh và thách thức. Như vậy, cùng với tăng cường giáo dục kỹ thuật, phổ cập công nghệ, chú trọng tin học, trong thời đại thông tin và kinh tế tri thức hết sức coi trọng giáo dục nhân văn, làm phong phú thêm văn hoá chung của nhân loại, bảo vệ loài người đi liền với giữ gìn độc lập dân tộc, đấu tranh và hợp tác trên cơ sở mỗi người được tự do phát triển là điều kiện cho người khác được tự do phát triển, như Các Mác và Ăngghen đã viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848). Kinh tế tri thức đòi hỏi và tạo điều kiện cho con người phát triển, coi trọng cá tính và bản lĩnh, phát huy tiềm năng cực kỳ phong phú của con người. Ngày nay, người ta chú ý dạy các tri thức tiềm ẩn bên cạnh các tri thức hệ thống cổ điển; giáo dục ở các nước bắt đầu có nên kinh tế mới này lại nói nhiều đến trực giác bên cạnh việc ý thức và tự ý thức; rất chú ý giáo dục đầu óc phê phấn bên cạnh việc rèn luyện khả năng thích nghi và óc sáng tạo. 

3. Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là giáo dục nhân cách 

Tinh thần cối lõi xuyên suốt Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000” nhằm đưa các quan điểm của Đại hội VIII vào cuộc sống. Nâng tầm nhận thức của toàn dân, toàn Đảng về vai trò của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ: phải bằng giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ mới tiến tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. 

Những quan điểm cơ bản và tư tưởng chỉ đạo phát triển giáo dục - đào tạo được các tầng lớp nhân dân mọi miền trong nước hoàn toàn nhất trí ủng hộ. Toàn Đảng, toàn dân ta vui mừng nhận thấy trong thành công của công cuộc đổi mới có những thành tựu quan trọng và tiến bộ đáng kể của ngành giáo dục - đào tạo. Mặt khác, toàn xã hội cũng hết sức lo lắng trước những yếu kém, bất cập của ngành giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi của công cuộc phát triển đất nước. Chưa bao giờ mọi người, mọi nhà, các tầng lớp xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội cùng với Đảng và nhà nước lại quan tâm, lo lắng đến việc giáo dục con em mình và nền giáo dục của nước nhà như bây giờ. Đó là điều hết sức đáng mừng nói lên sức mạnh của truyền thống hiếu học của dân ta và nâng cao truyền thống đó lên một mốc mới, mặt khác cũng nói lên những bất cập, yếu kém của ngành giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu của Đảng và nguyện vọng của nhân dân. 

Từ khi Đảng ta thực hiện chính sách đổi mới, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì phần lớn thanh niên cũng năng động phấn đấu vươn lên, vượt qua thách đố, đua tranh, tự chịu trách nhiệm với bản thân, lao vào học tập. Ở nhiều nơi bắt đầu có một cao trào học tập, đó chính là biểu hiện của sự bắt đầu một thời kỳ mới thịnh vượng của đất nước, cũng chính là phát huy mạnh hơn các tiềm năng của con người, làm cho con người phát triển, góp phần giải phóng lực lượng sản xuất. 

Mặt khác, mối quan tâm lo lắng nổi bật trong xã hội hiện nay là giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ. Điều hết sức đáng chú ý, như Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) đã nhận định, là trong một bộ phận sinh viên, học sinh có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước. Đất nước đang trong thời kỳ đổi mới với nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, mở cửa, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kéo theo biết bao cái mới mẻ trong đời sống vật chất và tinh thần. Cả xã hội và ở từng người có biết bao đổi thay trong quan niệm, cách nhìn, cách đánh giá cuộc đời. Mức sống được cải thiện, lối sống cũng hết sức đa dạng và phức tạp. Xuất hiện xu thế ngày càng phổ biến từ con người sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh vì nghĩa lớn chuyển thành con người chạy theo đòi hỏi đời thường ngày càng mạnh; từ con người hướng vào những giá trị tập thể, xã hội là chính chuyển sang hướng vào lợi ích cá nhân và gia đình là chính; từ cách sống bình quân đến chỗ phải chấp nhận sự phân hoá giàu nghèo, v.v... 

Sự thay đổi trật tự giá trị trong phần lớn nhân dân, đặc biệt là lớp trẻ, đã làm xuất hiện một hướng tư duy khoa học mới đã và đang phát huy tác dụng, đó là: làm việc gì cũng phải đúng quy luật và hợp lòng dân, trong đó có quy luật giá trị và kéo theo đó là quy luật lợi ích và tinh thần “đền ơn, đáp nghĩa”, - những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc cần được giữ gìn và phát triển. Thời kỳ mới tạo nên thang giá trị mới, thước đo giá trị mới, nhưng không có nghĩa là chúng ta chấp nhận sự thay đổi trật tự những giá trị cơ bản trong hệ thống giá trị của nhân loại và dân tộc, như truyền thống hoà bình, hữu nghị, yêu nước, tình nghĩa, hiếu thảo, hiếu học, cần cù... Điều đáng quan tâm là có những biến đổi lớn, thậm chí có người cho là đảo lộn, khủng hoảng trong định hướng giá trị xã hội và kéo theo đó là biết bao vấn đề đặt ra cho giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ ngày hôm nay. Các công trình nghiên cứu về con người và nhân cách cho thấy đang có xu thế coi nặng các giá trị vật chất, kinh tế, coi nhẹ các giá trị tinh thần, xã hội; ở nhiều nơi thuần phong mỹ tục có chiều hướng bị ảnh hưởng lai căng đồi bại của một số tác động xấu của văn hoá bên ngoài xen lấn; coi trọng kỹ thuật, có phần xem thường những giá trị nhân văn, v.v... 

Nghiêm túc kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai (khoá VIII), phải thừa nhận rằng trong mấy năm qua có phần lệch về dạy “chữ”, ít “dạy nghề”, không chú trọng “dạy người”. Lẽ ra, ba mục tiêu – dân trí, nhân lực, nhân tài - phải đặt trên mẫu số chung là nhân cách. Cho nên từ cổ xưa đã truyền từ đời này qua đời khác là phải dạy lý tưởng chân, thiện, mỹ. Bác Hồ đã từng nói con người phải có đức và tài, lấy đức làm gốc, mà ngày nay đối với chúng ta đức là trung với nước, hiếu với dân. 

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử đất nước, đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, tạo nên những con người mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc: kiên định giữ vững nền độc lập dân tộc, tự hào dân tộc, yêu quê hương, thương đồng bào..., phát triển đất nước theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa; có trình độ khoa học, công nghệ có sức khoẻ, được đào tạo có tay nghề, có tư duy tốt, linh hoạt, sáng tạo, thích nghi, có nếp sống và làm việc văn minh, hợp lý, làm việc có hiệu quả, làm giàu cho mình, cho nhà, cho đất nước; có tinh thần công dân: sống và làm việc theo pháp luật, có hiểu biết và ý thức tuân theo pháp luật, có thế giới quan Mác - Lênin - Hồ Chí Minh; đầy đủ tình nghĩa, nhân nghĩa, đạo đức, đạo lý: có các quan hệ tốt đẹp trong giao tiếp đầy tính người, tình người, nghĩa cử vì một lý tưởng cao đẹp, hiếu thảo, chân tình, có tinh thần làm chủ, coi trọng tín ngưỡng gia tiền; có cuộc sống văn hoá phong phú, thanh lịch, đẹp; biết tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại: nhân văn, nhân ái, nhân đạo; quốc tế vô sản chân chính, lập trường giai cấp vững vàng, tiến lên chủ nghĩa xã hội; hoà bình, hữu nghị, hợp tác, hội nhập vào xu thế của thời đại và cộng đồng. 

Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) đã giao nhiệm vụ: trong thời gian tới phải tăng cường giảng dạy các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, đưa việc giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh thành bộ môn trong nhà trường, tổ chức giảng dạy và học tập tốt bộ môn triết học Mác - Lênin. Ở tất cả các cấp học phải dạy tốt, học tốt quốc ngữ, quốc văn, quốc sử và địa lý Việt Nam. Thực hiện đủ số giờ dạy địa phương học để từ đây giáo dục lòng yêu quê hương và trẻ lớn lên trong tình người và tinh thần nồng nàn yêu nước. Cùng với gia đình giáo dục con em chúng ta tính người, tình người, tạo nên những con người có nhân cách Việt Nam đậm dà bản sắc dân tộc. Làm sao suốt cuộc đời của con em chúng ta luôn luôn gắn bó với lý tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội. Nền giáo dục của chúng ta phải giáo dục nên những con người có bản lĩnh làm chủ đất nước mình, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc và đưa đất nước phát triển lên chủ nghĩa xã hội - đây là nhiệm vụ cơ bản của cả sự nghiệp giáo dục - đào tạo. 

Chúng ta phải thực hiện tốt khẩu hiệu “Giáo dục cho mọi người và mọi người làm giáo dục”; toàn dân, toàn Đảng, các cấp, các ngành, các đoàn thể phải dấy lên một cao trào học tập và thực sự làm tốt công tác giáo dục; kết hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội - tất cả vì một môi trường giáo dục lành mạnh. Người lớn làm gương trẻ em, thầy giáo làm gương cho học sinh, đảng viên làm gương cho quần chúng, thủ trưởng làm gương cho nhân viên... tạo ra một xã hội rất nhiều tấm gương tốt đẹp, cũng như thời kháng chiến chống giặc ngoại xâm “ra ngõ gặp anh hùng”. Muốn như vậy thì các thầy, cô giáo phải không ngừng rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách bản thân, nêu cao trách nhiệm trước thế hệ trẻ, trước đất nước; nhà trường phải là cái nôi ươm trồng tài năng, đồng thời cũng là nơi văn hoá nhất. Tất cả và trên hết là thực hiện nhiệm vụ cơ bản, mục tiêu cao nhất của giáo dục là “dạy người”, là giáo dục nhân cách, giáo dục nghề nghiệp - bắt đầu một thời kỳ phát triển mới của nền quốc học nhân dân ở đất nước ta. 

Giáo dục giá trị truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng là nội dung xuyên suốt các bộ môn, các hoạt động và môi trường giáo dục. Giá trị truyền thống có một sức mạnh lạ thường - một chân lý ai cũng biết. Đó là sản phẩm của sản xuất vật chất và tinh thần tạo nên các kinh nghiệm xã hội qua các thời đại lịch sử, truyền từ đời này qua đời khác, thế hệ trước giáo dục thế hệ sau lĩnh hội để bản thân mỗi người trở thành người theo đúng nghĩa của nó và làm nên bản sắc dân tộc, bảo đảm sự tồn tại và phát triển đất nước. Qua giáo dục theo nghĩa rộng của từ này như một con đường có thể coi là chủ đạo để các giá trị truyền thống dân tộc và cách mạng chuyển tới từng thế hệ, từng con người hoá thành cốt cách, bản lĩnh và chí khí người Việt Nam, văn hoá Việt Nam. Các giá trị truyền thống của các tộc người sống trên đất Việt bảo đảm sự tồn vong của Tổ quốc, bao giờ cũng gắn liền, kết nối tính dân tộc với tính nhân bản, nhân văn, và là một dòng chảy liên tục của ý thức dân tộc. Về bản chất, truyền thống luôn luôn có mặt trong hiện đại, hiện đại là một tầng mới phát triển của truyền thống. Nếu có cái gì đó được coi là mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, thì giáo dục phải như một chiếc cầu nối liền truyền thống - hiện đại, như huyết mạch trong cơ thể giải quyết cái gọi là “mâu thuẫn” giữa các thế hệ. Sứ mệnh của giáo dục chúng ta chính là ở chỗ đó: xây dựng những thế hệ, những con người văn minh, hiện đại, có nhân cách văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. 

Hệ thống giá trị truyền thống Việt Nam rất phong phú, đầy sức sống, đã được lịch sử công nhận và thế giới ngày nay tôn trọng. Các giá trị truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng là nội dung xuyên suốt các bộ môn, các mặt hoạt động, các môi trường giáo dục cho tất cả các lứa tuổi. Đó chính là nền tảng của giáo dục nói chung, giáo dục nhân cách Nhân - Trí - Dũng nói riêng, như Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) đã chỉ ra. 

Để chấn hưng nền giáo dục nước nhà, cần phải khẳng định hệ thống giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị, trên cơ sở đó làm tốt định hướng giá trị xã hội. 

Các giá trị truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng là nội dung giáo dục xuyên suốt trong việc giảng dạy tất cả các bộ môn, các cấp học, bậc học, trong mọi hoạt động giáo dục ở tất cả các trường, đặc biệt trong các bộ môn quốc ngữ, quốc sử, quốc văn và địa lý quốc gia, tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê nin. Thực hiện tốt việc giáo dục giá trị, trước hết là giá trị truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng, dạy đạo làm người cho con em, biến thành vốn quý của mỗi con người, mỗi gia đình, sức mạnh của mỗi địa phương và cả nước vượt qua mọi thử thách, nguy cơ, tận dụng thời cơ đổi mới, mở cửa thị trường, hội nhập, đa phương theo hướng tổng quát thực hiện nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ tiếp nối cha anh giữ gìn nền độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. 

Tinh thần cần sớm được quán triệt vào việc soát xét, sửa đổi, bổ sung nội dung, chương trình, sách giáo khoa. Về đổi mới phương pháp giáo dục, cần chú trọng cả giáo dục trong nhà trường lẫn giáo dục ngoài nhà trường, bằng mọi cách tổ chức giảng dạy và giáo dục theo tư tưởng chỉ đạo “giáo dục gắn với lao động sản xuất và nhà trường gắn với xã hội”; đặc biệt đối với học sinh phổ thông trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng và đại học, phát huy kinh nghiệm tốt của nhà trường chúng ta, tạo ra nhiều cách thức và tạo điều kiện cho sinh viên, học sinh tăng cường thực tế, thực tập, công tác xã hội, đi về nông thôn vào nhà máy... Mặt khác, mọi gia đình phải làm tốt chức năng giáo dục đối với con em mình. Nhiều nét cơ bản của nhân cách, như tính người, tình người, đều bắt đầu từ giáo dục của gia đình và giáo dục mầm non, tiểu học. Gia đình và giáo dục gia đình là một giá trị hết sức đặc trưng của nhân loại, nhất là ở phương Đông từ xưa tới nay. Gia đình có thể và phải là một nơi giáo dục giá trị đạo đức, giá trị truyền thống tốt nhất. Ngày nay, phải tăng cường phổ biến các tri thức khoa học giáo dục đến từng gia đình và phối hợp chặt chẽ nhà trường với gia đình trong việc giáo dục con em chúng ta. Toàn xã hội kết hợp với nhà trường và gia đình uốn nắn, bảo vệ và xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh, trong đó người lớn, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo, các cán bộ quản lý giáo dục phải là những tấm gương cho con em noi theo, mau chóng khôi phục nền nếp, kỷ luật, kỷ cương và kiên quyết đẩy lùi mọi tiêu cực trong giáo dục - đào tạo. Tiếp nối và phát huy các giá trị truyền thống hoà trong một dòng cập nhật các giá trị văn hoá hiện đại, chúng ta có đủ khả năng đưa nhân cách, dân trí, nhân lực, nhân tài của từng cộng đồng và cả dân tộc lên tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu của thời đại công nghiệp  hoá, hiện đại hoá, văn minh, công bằng cùng với loài người đi vào thiên niên kỷ mới trong một tư thế đàng hoàng. 

4. Đội ngũ giáo viên quyết định chất lượng giáo dục 

Hiếu học và tôn sự trọng đạo là truyền thống của dân tộc ta. Từ xưa đến nay trong dân gian ai cũng thuộc câu ca: “Muốn khôn thì phải có thầy”; “Không thầy dạy dỗ, đố mày làm nên”; “Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”; “Không thầy đố mày làm nên”... 

Cả đến khi công thành doanh toại, người ta cũng nhắc nhau: “Mười năm rèn luyện sách đèn, công danh gặp bước chớ quên ơn thầy”. 

Trong suốt cuộc đấu tranh trường kỳ giữ nước và dựng nước, toàn dân ta, Đảng ta, nhà nước ta luôn luôn tôn vinh nghề dạy học và vị trí cao cả của người thầy. Đảng ta có đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp giáo dục; người thầy giáo là chiến sĩ cách mạng trên mặt trận tư tưởng - văn hoá. Đó là những người truyền thụ cho thế hệ trẻ lý tưởng và đạo đức cách mạng, bồi đắp cho họ nhân cách văn hoá đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, dạy cho họ có tri thức và kỹ năng lao động nghề nghiệp, tạo nên những lớp người có ích cho đất nước. 

Bác Hồ đã nói: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh”(7)

Bác Phạm Văn Đồng cũng nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý vào bậc nhất trong các nghề cao quý... nghề dạy học là một nghề sáng tạo vào bậc nhất trong các nghề sáng tạo..., vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”. 

Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳng định đội ngũ giáo viên giữ vai trò quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh. 

Nền giáo dục nước nhà có một đội ngũ đông đảo những người có tâm hồn trong sáng, có lý tưởng cao cả, suốt đời vì nước vì dân, tất cả vì học sinh thân yêu, với những tấm gương tiêu biểu soi sáng muôn đời sau, như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Siêu, Võ Trường Toản..., và ở thời đại chúng ta như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Tất Thành, và sau này có Nguyễn Văn Tố, Cao Văn Thỉnh, Phạm Thiều và biết bao các nhà giáo tiêu biểu khác, như thầy Dương Quảng Hàm, thầy Nguyễn Hữu Tảo, thầy Đặng Thai Mai, thầy Hoàng Ngọc Phách, cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, cố Bộ trưởng Tạ Quang Bửu... Đó là một số ít thầy trong đội ngũ trùng điệp rất đáng quý trọng của chúng ta. 

Trong suốt nửa thế kỷ qua, đội ngũ chúng ta có mặt ở khắp mọi miền đất nước, không quản khó khăn nhọc nhằn, vượt qua gian khổ thiếu thốn dành toàn bộ tài năng tâm trí cho lớp lớp con em trưởng thành, sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp giữ nước và dựng nước. 

Chính nhờ những đóng góp, hy sinh vì sự nghiệp “Trăm năm trồng người” của các thế hệ nhà giáo nước nhà, cùng với sự chăm sóc của toàn Đảng, toàn dân, ngày nay nước nhà đã có một nền giáo dục nhân dân. Có thể nói rằng, lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà chúng ta có một nền quốc học nhân dân có đủ khả năng đào tạo từ mẫu giáo đến bậc tiến sĩ. 

Bên cạnh niềm vui và tự hào, trong lòng mỗi người chúng ta điều khó tránh khỏi nỗi lo lắng trước tình hình giáo dục còn nhiều khó khăn, thiếu sót, yếu kém, tiêu cực, khiến cả xã hội không yên tâm, đòi hỏi phải mau tìm ra các giải pháp có hiệu lực để khắc phục. Chúng ta phấn khởi chào đón Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) khẳng định giáo dục, khoa học, công nghệ phải thực sự là quốc sách hàng đầu. Một chân trời mới đang mở ra trước nhà trường và nhà giáo. Đội ngũ giáo viên đang có và sẽ được tiếp thêm sức mạnh và niềm tin. Có điều chúng ta phải nhắc nhở nhau chính là sự nỗ lực tự thân mỗi người. Mọi người trong chúng ta đều nhớ một chân lý của mọi thế hệ thầy giáo là muốn giáo dục người khác, trước hết phải tự giáo dục mình: tự rèn luyện bản thân, tự bồi dưỡng trình độ, tự bảo vệ và nâng cao uy tín, xứng đáng với lòng tin và mong đợi của đồng bào vào con em chúng ta. Những nhiệm vụ mới của một xã hội công nghiệp, hiện đại, văn minh, công bằng đang đặt ra cho ngành giáo dục, đòi hỏi đội ngũ giáo viên chúng ta phải vươn lên ngang tầm với yêu cầu của thời đại. 

Trong báo cáo “Học tập: của cải nội sinh” của Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI, sau phần tổng quát dưới đầu đề “Giáo dục: sự không tưởng cần thiết” của ông Giắc Đơlo, Chủ tịch Uỷ ban, đã dành hẳn toàn bộ chương 7 nói về thầy giáo khẳng định vai trò quyết định của người thầy giáo trong việc chuẩn bị thế hệ trẻ có trách nhiệm xây dựng tương lai của nhân loại theo hướng toàn cầu hoá (“xây dựng toàn cầu”), đoàn kết, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, sống trong hoà bình, bao dung. Tất cả phụ thuộc rất nhiều vào việc đội ngũ giáo viên phải rèn luyện được ở thế hệ trẻ một trí tuệ nghiêm túc, tình cảm sâu sắc, thông cảm lẫn nhau cùng với tính độc lập ngày càng cao. Trong báo cáo này cũng khẳng định “mối quan hệ đầy sức mạnh giữa thầy và trò giữ vị trí trung tâm trong quá trình giảng dạy”. Thầy giáo là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lượng giáo dục, do đó muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải phát triển đội ngũ giáo viên cả về số lượng và chất lượng. 

Tìm hiểu bản chất sứ mệnh của nhà giáo trong việc phục vụ xã hội, xem xét hiệu quả của mọi hoạt động giáo dục tức là xem xét phản ứng của xã hội trước những kết quả của giáo dục đạt được thông qua việc đánh giá chất lượng giáo dục học sinh, sinh viên. 

Nhiều cuộc thảo luận về cải cách giáo dục đã khẳng định rằng, những quan điểm đơn giản về dạy và học trước đây đã không còn phù hợp nữa, những quan niệm cho rằng chỉ cần để học sinh tiếp xúc với một ông thầy thông thái và đạo đức tốt là tự khắc chúng sẽ dần dần khá lên. Đến nay, qua thực tế kiểm nghiệm là không chính xác, vì thầy giáo chỉ là nhân tố quan trọng nhất quyết định chất lượng học tập chứ không phải là tất cả, mà còn phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố khác. Quan niệm đó sẽ không bao giờ dẫn đến một hệ thống giáo dục hoàn hảo, không đáp ứng được yêu cầu của kỷ nguyên tin học. Vậy, hãy xét sự thay đổi về vai trò của người thầy giáo và sự phát triển tương ứng của những định chế giáo dục kèm theo. Người ta đã chia thời kỳ biến chuyển của giáo viên làm bốn thời kỳ: 

Thời kỳ thứ nhất: thời kỳ chuyển giao trực tiếp tri thức từ giáo viên đến học sinh. Ở thời kỳ này, với văn hoá truyền khẩu, người ta quan tâm nhiều đến ba ưu điểm của người thầy, đó là: có một tri thức rộng về những điều mà họ sẽ dạy cho học sinh; có khả năng truyền đạt tri thức; và một nhân cách mẫu mực làm gương cho học sinh. Kiến thức bao quát và trí nhớ tốt là những phẩm chất được quý trọng nhất đối với người giáo viên. 

Thời kỳ thứ hai: thời kỳ của những cải tiến mày mò để tìm một phương thức truyền đạt dễ hiểu và dễ tiếp thu hơn. Ở thời kỳ này, trên cơ sở ứng dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật hiện đại, người thầy phải tìm ra một phương pháp truyền thụ tri thức cho học sinh sao cho hiệu quả nhất. Trước hết, đó là việc chọn và sắp xếp bài học của thầy giáo phải thật sự khoa học và logich bảo đảm truyền đạt kiến thức cho học sinh một cách có hệ thống. Sau đó là tổ chức việc học tập cho học sinh một cách khoa học để có thể phát huy tính chủ động, sáng tạo trong học tập, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. 

Thời kỳ thứ ba: thời kỳ biên soạn sách giáo khoa. Đây là một khâu hết sức quan trọng, bởi vì lượng kiến thức của nhân loại ngày càng nhiều, phong phú, đa dạng và thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi sách giáo khoa vừa phải bảo đảm đầy đủ lượng thông tin cần thiết để có thể kế thừa và phát triển những kiến thức truyền thống, vừa bảo đảm sự cập nhật thông tin mới, vừa không tạo nên sự quá tải cho chương trình giáo dục.

Thời kỳ thứ tư:thời kỳ của việc học tập và hướng dẫn. Ở thời kỳ này, người học quan tâm nhiều đến việc học tập giải quyết các hiện tượng tự nhiên và xã hội của môi trường xung quanh bằng cách quan sát trực tiếp và các bài tập thực hành. Các bài giảng trong sách giáo khoa lúc này chỉ dùng làm tài liệu hướng dẫn và tham khảo về những vấn đề cơ bản nhất. Lúc này, người thầy thực sự là người hướng dẫn và giải đáp những thắc mắc cho học sinh, giúp học sinh tự do và độc lập sáng tạo. 

Việc phân chia thành bốn giai đoạn như trên đòi hỏi giáo viên phải thay đổi phương pháp giảng dạy. Lúc này, giáo viên không còn là cái ống dẫn thông tin đến với học sinh nữa, mà đã trở thành chất xúc tác của quá trình dẫn thông tin. Họ không còn là người đứng giữa môn học và học sinh mà trở thành người đứng bên cạnh học sinh để hướng dẫn và chăm sóc học sinh, tạo hưng phấn trong học tập và khuyến khích học sinh tìm tòi sáng tạo, giải đáp những thắc mắc của học sinh. Điều quan trọng là làm sao để cho học sinh có thể kiểm nghiệm lại tính đúng đắn của những bài học trong thực tế của đời sống xã hội. Dĩ nhiên, khi học sinh càng nhỏ tuổi thì ảnh hưởng của giáo viên đối với học sinh càng nhiều, nhưng đừng bao giờ quên rằng giáo viên chỉ là người trợ lực cho quá trình học tập của học sinh, còn học sinh phải tự mình học tập và sáng tạo. Nói cách khác, giáo viên muốn làm gì đi chăng nữa thì mọi tri thức được truyền thụ vẫn không có giá trị đích thực nếu họ không làm cho học sinh tự mình kiểm nghiệm và thực nghiệm những tri thức đó trong đời sống xã hội. 

Chúng ta cũng có thể nhìn thấy vai trò của người giáo viên thay đổi theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại thông qua các tài liệu giảng dạy. Ở đây, có thể phân biệt làm ba giai đoạn của vai trò giáo viên.Thứ nhất, giai đoạn của giáo khoa. Ở giai đoạn này, giáo viên đứng trước lớp, dùng sách như là phương tiện giảng dạy duy nhất, cắt nghĩa bằng lời và trực tiếp hướng dẫn cách học bài cho học sinh.Thứ hai, giai đoạn của những tài liệu tham khảo. Việc tập trung vào sách giáo khoa vẫn như ở giai đoạn đầu nhưng được bổ sung thêm bằng những tài liệu làm cho nội dung sách càng phong phú thêm tranh ảnh, vật cụ thể, biểu đồ, mô hình... Những thứ này được đưa vào giờ học để tăng sức thu hút và kích thích lòng hiếu học của học sinh. Giai đoạn thứ ba học bằng kinh nghiệm bản thân. Ở giai đoạn này, môi trường tự nhiên và xã hội chính là những tài liệu giảng dạy mà giáo viên là người hướng dẫn, làm môi giới cho sự tiếp xúc trực tiếp giữa học sinh và thế giới xung quanh. 

Từ trước đến nay, theo phương pháp giảng dạy thông thường, giáo viên tốn nhiều thời gian vào việc thuyết trình những thông tin mà học sinh cũng có thể tự đọc lấy được trong sách giáo khoa hoặc các tài liệu tham khảo. Việc loại bỏ sự thông tin lại những điều đã được trình bày rõ ràng trong sách và bắt học sinh phải học thuộc lòng sẽ cho phép giáo viên tập trung vào những chương trình học mới, tìm tòi những thông tin mới nhằm nâng cao lòng tự tin của học sinh trong khi lĩnh hội những tri thức được trình bày trong sách giáo khoa cũng như những tri thức mới mà thầy giáo truyền thụ. Vậy, không nhất thiết mỗi môn học phải có một giáo viên, mà vấn đề ở đây là sắp xếp cụm chương trình như thế nào đó để không những sẽ hướng dẫn được học sinh học tập tốt hơn mà còn đem lại hiệu quả tri thức cao nhất cho người học. Trọng tâm của việc dạy và học lúc đó sẽ chuyển dịch từ chỗ giáo viên phải lên lớp 100% thời gian, tới việc đem lại ý thức học tự giác và sáng tạo cho học sinh và thời gian học trên lớp sẽ được giảm đi đáng kể. Trách nhiệm tự học của học sinh và những biện pháp khen thưởng của thầy giáo nhằm nâng cao vinh dự cho học sinh sẽ được quan tâm hơn nữa nhằm nâng cao ý tưởng giáo dục hiện đại tạo giá trị cho học sinh. Sự chuyển biến này chắc chắn sẽ đưa đến việc cải cách toàn bộ nền giáo dục, và chúng ta phải nhanh chóng bắt tay vào quá trình cải cách giáo dục một cách khoa học và thận trọng. Có như vậy, giáo dục mới dần dần phát triển đáp ứng được những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp, hiện đại hoá. Trong tương lai, chỉ khi nào các nhà giáo nhận thức được rằng mình thực sự là người bảo hộ về tri thức và nhân cách cho học sinh, hay nói đúng hơn là người bảo hộ về tri thức và nhân cách cho con cái chúng ta, thì khi đó mới thực sự là nhà giáo. Nếu quan niệm nhà giáo theo nghĩa đó thì nhà giáo phải là nhà đạo đức học ứng dụng. Họ phải luôn giữ tư thế của một quan toà phân định thiện, ác và có đủ can đảm bày tỏ chính kiến đúng đăn của mình, và hành động theo đúng chính kiến ấy. Dĩ nhiên, đây là một trách nhiệm hết sức to lớn và nặng nề và không phải trao vào tay ai cũng được ngoài các thầy cô giáo. 

Từ xưa đến nay, nghề dạy học luôn đòi hỏi người dạy phải là người thật sự gương mẫu, là tấm gương sáng về nhân cách, là người hướng đạo trên đường đời cho học sinh. Bất cứ ai và khi nào, khi bàn về một phầm chất lý tưởng mà nhà giáo phải có, thì ai cũng phải nghĩ tới mô hình những con người hết sức mẫu mực, có những phẩm chất mà toàn xã hội phải tôn trọng. Về điều này thì không có sự phân biệt giáo viên cấp tiểu học hay giáo viên đại học, không kể tuổi tác hay trình độ học vấn, mà quan trọng là người đó có thật sự có đủ tư cách là nhà giáo hay không. Một khi người dạy học mà không đạt được các tiêu chuẩn ấy thì không xứng đáng là thầy giáo. Nói cho thật cụ thể và chính xác, người giáo viên phải là một người có nhân cách và lối sống hết sức tốt đẹp, lời nói và việc làm phải luôn đi đôi với nhau, được đào tạo chuẩn mực và luôn luôn được rèn luyện trong môi trường tốt đẹp. Các khái niệm chung về phẩm chất của người thầy chung quy lại là vấn đề nhân cách, đó là cốt lõi của nghề giáo dục, vấn đề đó được thể hiện qua sự hài hoà giữa trí tuệ và cách ứng xử cá nhân của người thầy giáo. Từ những phân tích ở trên có thể thấy điều tối cần thiết trong việc lựa chọn giáo viên là phải chọn những người có nhân cách tốt, có như vậy mới hy vọng tránh được sự suy thoái của một nền giáo dục. 

Vậy, những tiêu chuẩn tối thiểu đối với một người giáo viên nói chung là gì? Trước hết, giáo viên phải là người có nhân cách mẫu mực để làm gương cho học sinh; được đào tạo chính quy và được trang bị đầy đủ kiến thức về lý luận dạy học và phương pháp sư phạm.Thứ hai, giáo viên phải được trang bị kiến thức tương đối tổng quát và phải có một chuyên môn sâu để có thể đánh giá được tầm quan trọng của những tri thức chuyên môn của mình và đánh giá được nội dung các giáo trình trên bối cảnh chung.Thứ ba, giáo viên phải có khả năng hoạt động xã hội để tập hợp và tổ chức được các hoạt động cho học sinh; có thể hình dễ gần, không có dị tật.

5. Cải cách chương trình đào tạo giáo viên 

Việc tiến hành đào tạo giáo viên từ trước đến nay nhiều người quan niệm chỉ cần nắm vững chuyên môn là đủ, nhưng trong nền giáo dục hiện đại, việc đào tạo giáo viên cần được bổ sung ba yếu tố sau:Thứ nhất, phải được đào tạo một lượng tri thức tương đối rộng, học sâu một số môn chuyên ngành; bên cạnh đó phải được trang bị thêm một số môn học khác để phục vụ việc hiểu sâu hơn những môn chuyên ngành, và giải đáp cho học sinh những điều thắc mắc.Thứ hai, được huấn luyện phương pháp và kỹ năng dạy học một cách chu đáo và thường xuyên được trao đổi kinh nghiệm dạy học với các bạn đồng nghiệp.Thứ ba, thường xuyên được rèn luyện nhân cách, đặc biệt là vấn đề rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển tính cách, tăng cường ý thức của người giáo viên và là tấm gương sáng để làm “khuôn vàng, thước ngọc” cho học sinh noi theo. Đây là vấn đề quan trọng nhất đối với một người giáo viên. Về kiến thức, giáo viên phải được đào tạo chính quy cẩn thận, biết hướng dẫn, thu nhận và ứng dụng thông tin một cách thành thục để định hướng và tạo ra giá trị cho học sinh. Về phương pháp, phải được đào tạo và được sử dụng các kỹ thuật và công cụ dạy học vào việc truyền đạt tri thức đến học sinh hiệu quả nhất. Việc đào tạo giáo viên không nên theo hướng nhồi nhét kiến thức mà phải hướng dẫn họ tự khám phá và ứng dụng tri thức vào việc dạy học sau này. Trong việc đào tạo giáo viên thì đào tạo giáo viên tiểu học phụ trách một lớp học, họ không những là người truyền đạt tri thức tổng hợp cho học sinh, mà còn là người định hướng, định hình các giá trị đạo đức, nhân cách cho lớp người nhỏ tuổi trước khi bước vào đời. Tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người đều nhằm đạt được giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Đó cũng chính là công việc của giáo viên và của việc đào tạo giáo viên. 

Về phương diện Thiện (Đạo đức) là phương diện liên quan nhiều nhất đến việc tạo giá trị của giáo viên, vị trí ưu tiên là phải luyện cho tính cách người giáo viên có những phẩm chất đạo đức ở một mức độ cao hơn so với một người bình thường. Giáo viên cần có chí, cần được huấn luyện những phương pháp giúp học sinh học tập tạo giá trị, và họ cần trau dồi những phẩm chất đạo đức cho dù họ có dạy môn nào đi nữa. Nhưng lẽ dĩ nhiên họ cũng cần một trình độ tri thức sách vở nào đó để làm cơ sở, nền tảng cho việc tìm tòi và mở rộng tri thức trong quá trình dạy học. Vấn đề căn bản nhất và là nhân tố quyết định của giải pháp đào tạo giáo viên là phải làm sao nâng cao lương tâm nghề nghiệp của họ. Có lẽ hơn bất cứ nghề nào trong xã hội, giáo dục là một nghề phức tạp, đặc biệt và cao quý nhất, vì nó nhằm đến những giá trị của nhân cách của con người. Nó đòi hỏi một sự tổng hợp các phương tiện và mục đích, những thao tác có quy mô lớn và quy mô nhỏ, những kế hoạch dài hạn và ngắn hạn, những phác thảo thô và những biểu đồ tỉ mỉ, làm thành cả một tiến trình có hệ thống và trật tự logich chặt chẽ. Vậy, người thầy phải có cả hai thứ: chuyên môn và khả năng đa dạng có thể ứng phó được với bất kỳ tình huống nào trong quá trình giảng dạy. Những năng lực nắm vững lý thuyết và thực tiễn, mục tiêu và phương tiện chỉ đến sau nhiều năm học hành và luyện tập. 

Cần phải chú ý rằng vai trò của giáo viên là khuyến khích sự chủ động, sáng tạo của học sinh thay vì cứ áp đặt tài liệu sách giáo khoa bắt buộc họ học. Việc hướng dẫn của giáo viên theo ba khía cạnh sau: hương dẫn nhận thức; hướng dẫn đánh giá; hướng dẫn tạo giá trị. 

Trong nhà trường, học sinh học, sinh hoạt chung mang tính cộng đồng. Sự hoạt động này là kết quả ảnh hưởng lẫn nhau trong việc hình thành cá tính, học sinh sẽ trở thành nhân tố mới trong giáo dục hiện đại. Cách định nghĩa cũ về giáo dục – là sự truyền đạt tri thức có chủ đích cho người học theo một phương pháp quy định – không còn đúng nữa. Trong giáo dục hiện đại, vấn đề nghiên cứu tâm lý học để áp dụng đối với học sinh theo lứa tuổi, theo trình độ, theo giới tính cần được quan tâm hơn trước, bởi vì, hiện nay do áp lực của gia đình, cùng với việc dạy thêm, học thêm tràn lan đã gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của học sinh. Từ những phân tích ở trên cho thấy, bên cạnh những lĩnh vực chuyên môn sâu của mỗi môn học chúng ta cần cập nhật những thông tin mới có chọn lọc, và đối với những môn học truyền thống bắt buộc thì việc cải tiến chương trình đào tạo giáo viên cần theo hướng cung cấp thông tin có định hướng, tăng kỹ năng thực hành và lý luận dạy học; làm quen với phương pháp dạy học hiện đại, đó là nêu vấn đề và hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề; biết cách sử dụng thành thạo các thiết bị dạy học. Cần đưa thêm môn học tâm lý lứa tuổi vào chương trình đào tạo giáo viên ở các cấp học để trợ giúp việc giáo dục học sinh ở mỗi cấp học có hiệu quả cao hơn. 

6. Tiếp tục đổi mới, chấn hưng sự nghiệp giáo dục 

Tiếp tục đổi mới tư duy giáo dục, xem xét lại mục tiêu giáo dục, trên cơ sở

Lưu trữ

Sổ liên kết

Nguồn cấp tin

Viện nhân tài CHC

Đăng ký nhận tin
 
Tổng số lượt xem trang
5707719
Moonshop.vn