Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới - Chương I

Đăng bởi: AdministratorIn
Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, vấn đề chính quyền và việc xây dựng, hoàn thiện một nhà nước kiểu mới, nhà nước dân chủ ở Việt Nam luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu, một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng.
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới của tập thể tác giả Nguyễn Văn Yểu và GS-TS Lê Hữu Nghĩa (Đồng Chủ biên), GS-TS Trần Ngọc Đường, TS Nguyễn Văn Hiện, TS Vũ Đức Khiển, GS-TS Nguyễn Ngọc Long, TS Uông Chu Lưu, TS Thang Văn Phúc, GS-VS Nguyễn Duy Quý, TS Nguyễn Viết Thông, TS Nguyễn Văn Thuận và PGS-TS Đức Vượng (Thư ký Công trình). Cuốn sách đang được dư luận trong và ngoài nước quan tâm. Website ISSTH  xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách này: 

Chương I. Nhìn lại 20 năm đổi mới tư duy về Nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

1. Những tiền đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 
 
Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, vấn đề chính quyền và việc xây dựng, hoàn thiện một nhà nước kiểu mới, nhà nước dân chủ ở Việt Nam luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu, một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng.
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng việc cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện mới.

Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự khẳng định và thừa nhận Nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử; nó không chỉ là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ của xã hội loài người, của nền văn minh nhân loại.

Quá trình đổi mới tư duy và hình thành quan điểm, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân gắn liền với quá trình hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới đất nước, xuất phát từ những tiền đề kinh tế - xã hội và những ảnh hưởng, tác động của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

Tiền đề kinh tế 

Trên cơ sở đánh giá đúng đắn, khách quan thực tiễn cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra những hạn chế bất cập cơ bản của cơ chế này: Quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu; cơ quan nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về mặt vật chất đối với những quyết định của mình; cơ chế quản lý tập trung bao cấp, coi thường quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thị trường. Nhà nước quản lý nền kinh tế kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và giao nộp sản phẩm theo quan hệ hiện vật là chủ yếu; bộ máy quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá, tập trung bao cấp, vì thế rất cồng kềnh và kém năng động, nhiều tầng nấc trung gian; đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế nói chung không thạo việc kinh doanh, nhưng lại quan liêu, cửa quyền. Hệ quả của cơ chế quản lý kinh tế này đã làm cho sản xuất bị đình trệ, đẩy đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế nặng nề.

Sự ra đời và vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Trình độ của lực lượng sản xuất có sự phát triển nhanh chóng (nhiều thành tựu của khoa học - kỹ thuật trên các lĩnh vực được đưa vào ứng dụng rộng rãi trong sản xuất, kinh doanh) làm thay đổi và xuất hiện nhiều quan hệ kinh tế mới trong sản xuất - kinh doanh; cung ứng dịch vụ, phân phối, lưu thông hàng hoá, tiền tệ,... Điều này tất yếu dẫn đến nhu cầu khách quan là Nhà nước phải thực hiện các biện pháp, mà trước hết là xây dựng hệ thống luật pháp, tạo ra các cơ chế bảo đảm quyền tự do sản xuất, kinh doanh, tự do hợp đồng, cạnh tranh lành mạnh của các doanh nghiệp. Như vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tự nó đã là một đòi hỏi tất yếu khách quan, buộc Nhà nước phải thay đổi phương thức quản lý kinh tế - xã hội bằng pháp luật, phải xây dựng thể chế kinh tế thị trường đủ ở mức tạo thành hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo đảm công bằng, bình đẳng, hợp tác cùng phát triển lâu dài giữa các thành phần kinh tế, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Việc chỉ ra một cách đúng đắn những hạn chế của cơ chế quản lý cũ giúp chúng ta tìm được những cách thức khắc phục nó một cách hiệu quả. Việc xoá bỏ cơ chế cũ phải diễn ra đồng thời với việc xây dựng cơ chế quản lý mới. Đại hội VI của Đảng xác định mục tiêu của cơ chế mới là tạo ra động lực mạnh để giải phóng năng lực sản xuất, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển hoạt động kinh tế sang hạch toán kinh doanh; sử dụng đầy đủ và đúng đắn các quan hệ hàng hóa - tiền tệ; nền kinh tế phải được quản lý bằng các biện pháp kinh tế là chủ yếu; các đơn vị kế hoạch (quốc doanh và tập thể) là  những đơn vị sản xuất hàng hoá, có quyền tự chủ về sản xuất, kinh doanh, tự chủ về tài chính.

Trong mối quan hệ giũa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc thì Nhà nước cần được đổi mới cho phù hợp. Sự ra đời của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi tất yếu Nhà nước phải quản lý kinh tế, quản lý xã hội bằng pháp luật, là tiền đề quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có thể thực sự ra đời và từng bước hoàn thiện khi các điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước phát triển đến một trình độ nhất định, làm tiền đề, tạo điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để các quyền cơ bản của công dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội được bảo đảm thực thi một cách đầy đủ và triệt để.

Việc Đảng và Nhà nước khẳng định mô hình kinh tế thị trường tại Việt Nam là không đối lập với chủ nghĩa xã hội; mà đó cũng đồng nghĩa với việc khẳng định có thể và cần xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền không đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đây cũng là một đòi hỏi khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Tiền đề chính trị - xã hội 
Cùng với quá trình đổi mới kinh tế, những ảnh hưởng, tác động về mặt chính trị - xã hội cũng tạo ra các tiền đề quan trọng trong quá trình hình thành tư duy lý luận của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tiền đề chính trị - tư tưởng quan trọng nhất để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí MInh về nhà nước và pháp luật.

Trong việc xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng những tư tưởng, quan điểm về pháp quyền, nhân quyền (quyền con người), về các quyền tự do, dân chủ, về bản chất, vai trò của luật pháp trong xã hội.

Trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm thấy ở đó chủ nghĩa nhân đạo và tính nhân văn cao cả. Người lên án chế độ thực dân độc đoán, hà khắc, phản dân chủ, áp bức các dân tộc thuộc địa. Trong Yêu sách của nhân dân An Nam (viết năm 1919), Người yêu cầu phải cải cách nền công lý ở Đông Dương theo hướng người bản xứ cũng được quyền hưởng những bảo đảm về mặt pháp luật như người châu Âu; xoá bỏ hoàn toàn và triệt để các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phần trung thực nhất trong nhân dân Việt Nam; Người yêu cầu phải để cho nhân dân Việt Nam có các quyền tự do như tự do ngôn luận, tự do lập hội và hội họp, tự do giáo dục và đặc biệt là “thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.1, tr.436). Năm 1992, trong bài Việt Nam yêu cầu ca, Người đã thể hiện nội dung những yêu sách trên để phổ biến rộng rãi:
“Bảy xin hiến pháp ban hành,
Trăm đều phải có thần linh pháp quyền” (Hồ Chí Minh: Sđd, 2000, t.1, tr.438).

Những tư tưởng nhân văn cao cả trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa lập hiến đã được vận dụng ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945. Ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, một trong những nhiệm vụ cấp bách mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (ngày 3/9/1945) là: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay một cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v...” (Hồ Chí Minh: Sđd, 2000, t.4, tr.8). Và chỉ 10 tháng sau, Quốc hội do nhân dân bầu ra qua cuộc Tổng tuyển cử lịch sử đó đã thông qua Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp dân chủ đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của Nhà nước hợp hiến Việt Nam.

Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản  Việt Nam lãnh đạo. Vì vậy, phải khẳng định và bảo đảm quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nhằm giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước.

Nhà nước ta mang tính nhân dân, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, dựa trên khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công, nông và trí thức do giai cấp công nhân lãnh đạo.

Xây dựng Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định pháp luật là phương tiện để củng cố Nhà nước, duy trì trật tự xã hội. Giữa pháp luật và Nhà nước phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Để tạo nên sự ổn định của Nhà nước, làm cho bộ máy Nhà nước vận hành đúng quỹ đạo, phát huy được hiệu lực quản lý, điều hành thì phải xây dựng được hệ thống luật pháp đúng đắn. Luật pháp của ta là luật pháp thực sự dân chủ, bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Mọi người đều có quyền tham gia xây dựng pháp luật, bình đẳng trước pháp luật và tuân thủ pháp luật. Các cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức của Nhà nước phải làm gương trong việc thi hành pháp luật.

Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng  sản Việt Nam vừa là người lãnh đạo, vừa là bộ phận của hệ thống ấy. Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên) là những bộ phận cấu thành cơ bản. Vì vậy, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải đặt trong bối cảnh đổi mới đồng bộ các thành tố cơ bản của cả hệ thống chính trị, trong mối quan hệ tác động qua lại giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Những thành tựu trong quá trình đổi mới, củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị trong thời gian qua đã tạo ra tiền đề, môi trường chính trị - xã hội đặc biệt quan trong cho việc nhận thức lý luận của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Dân chủ hoá trong đời sống chính trị - tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội là một trong những tiền đề chính trị tư tưởng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Sự phát triển, hoàn thiện của Nhà nước và pháp luật không tách rời sự phát triển, tiến bộ của nền văn minh nhân loại và trình độ phát triển văn hoá – xã hội cụ thể của quốc gia trong từng thời kỳ (trình độ dân trí, vấn đề dân chủ và công bằng xã hội, vấn đề quyền con người và quyền công dân,...). Đó là mối quan hệ biện chứng.

Qua 20 năm đổi mới, cùng với các chính sách về phát triển kinh tế, Đảng đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển văn hoá – xã hội. Thể chế hoá những chủ trương này, Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận trong các chương về chế độ kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và được cụ thể hoá trong nhiều văn bản luật, pháp lệnh, nghị định,... Phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu; đẩy nhanh phát triển kinh tế, phát triển xã hội với việc bảo vệ môi trường tự nhiên.

Qua 20 năm đổi mới, các giá trị văn hoá – xã hội mang tính truyền thống được kế thừa, phát triển, tiếp thu có chọn lọc các nhân tố mới của thời đại. Sự phát triển về văn hoá – xã hội có tác động tích cực đến nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội. Trong thời gian qua, chúng ta đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu khoa học về Nhà nước và pháp quyền; đã có những nhận thức mới về giá trị xã hội của Nhà nước và pháp luật, về quyền và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, về mối quan hệ cộng đồng trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân; sự đánh giá lại hệ giá trị vật chất, tinh thần, về các đặc trưng kinh tế, xã hội, văn hóa, con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa.   Các công trình khoa học đã chỉ ra những đặc điểm, đặc thù của điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam, từ đó, xác định những yêu cầu, nội dung, vị trí, vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, ...

Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa qua 20 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước đã lần lượt đề ra và thực hiện có hiệu quả những chính sách quan trọng đáp ứng yêu cầu hợp tác, hội nhập kinh tế, quốc tế và khu vực với việc Việt Nam, phá được thế bị bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương, đa dạng hoá. Việt Nam trở thành thành viên chính thức và có uy tín, trách nhiệm của ASEAN, thành viên có uy tín của AIPO (Liên minh Nghị viện các quốc gia Đông Nam Á) và các tổ chức liên kết giữa các nước, khối nước đối thoại, hợp tác với ASEAN; trong quá trình đàm phán tích cực để gia nhập WTO đã đặt ra những yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phù hợp với các chuẩn mực chung của khu vực và thế giới và vẫn giữ được các nét đặc trưng riêng của Việt Nam. Đó là các tiền đề quan trọng bảo đảm cho Nhà nước Việt Nam thực hiện có hiệu quả, nghiêm túc các cam kết quốc tế, một trong những yêu cầu quan trọng của công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Những nhận thức mới và những thành tựu về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trước thời kỳ đổi mới, việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và pháp luật được thực hiện trên cơ sở quan điểm phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp. Từ Đại hội VI, Đảng khởi xướng đường lối đổi mới, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Trong quá trình đó đã nảy sinh quan niệm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tuy nhiên đã có những quan điểm khác nhau về nhà nước pháp quyền. Có ý kiến cho rằng, trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì không thể có nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền chỉ dành riêng cho nhà nước tư sản. Vì vậy, không thể ghép “nhà nước pháp quyền” với “chủ nghĩa xã hội” được. Nhưng nhiều ý kiến khác lại cho rằng, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sự sáng tạo của Đảng trong quá trình đổi mới tư duy về xây dựng Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều quan trọng là Đảng và Nhà nước phải biết phát huy cao độ tinh thần dân chủ, ý thức tự lực tự cường và tinh thần sáng tạo của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhận thức là một quá trình và thực tiễn là cơ sở của quá trình ấy. Chính thực tiễn là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá tính xác thực của quá trình nhận thức về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
 
Nhận thức này đã dẫn đến chủ trương coi trọng hơn việc quản lý xã hội bằng pháp luật và theo pháp luật; bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp luật; phân biệt rõ quản lý hành chính – kinh tế với quản lý sản xuất – kinh doanh, trên cơ sở đó tổ chức bộ máy quản lý hành chính – kinh tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh chứ không cản trở nó; chú trọng từng bước xây dựng hệ thống pháp luật kinh tế và các pháp luật về an ninh xã hội; pháp luật phải được thực hiện thống nhất trong cả nước. Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Trong điều kiện một đảng cầm quyền, mọi cán bộ, bất cứ ở cương vị nào đều phải sống và làm việc theo pháp luật, gương mẫu trong việc tôn trọng pháp luật. Mọi vi phạm pháp luật đều phải được xử lý. Phải dùng sức mạnh của pháp chế xã hội chủ nghĩa kết hợp với sức mạnh của dư luận nhân dân để đấu tranh những hành vi vi phạm pháp luật. Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống và cuộc sống phải được phản ánh vào pháp luật.
 
Có thể coi những nhận thức trên là cơ sở, tiền đề quan trọng cho sự tiếp tục phát triển tư duy lý luận của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
 
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, từ nhận thức đến thực tiễn còn là một khoảng cách. Có lúc nhận thức đúng, nhưng lại vận dụng sai. Khi thực hiện, chúng ta chưa có những định hướng cải cách rõ ràng, đáng kể về bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp, chưa theo kịp với sự vận động khách quan của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội. Những chủ trương, định hướng phát triển hệ thống pháp luật còn manh mún, thiếu tầm nhìn bao quát. Vị trí của pháp luật trong đời sống xã hội chưa thực sự được tôn trọng đúng mức.
 
Nguyên nhân của những hạn chế trên đây là do hoàn cảnh thực tế và do trình độ quản lý còn non kém. Những ảnh hưởng, tàn dư của tư tưởng cũ, phong cách điều hành, chỉ đạo của thời chiến vẫn còn in đậm trong đời sống xã hội, trong cách nghĩ, cách làm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Năng lực của đội ngũ cán bộ còn rất hạn chế về trình độ chuyên môn, về kiến thức quản lý, kiến thức pháp luật, phong cách điều hành, tác phong công tác; trình độ ngoại ngữ, tin học còn rất yếu. Rất nhiều cán bộ quen điều hành theo mệnh lệnh, bằng uy quyền, chứ không bằng uy tín; họ rất ít quan tâm đến pháp luật. Người dân chưa có thói quen chấp hành pháp luật, chấp hành không nghiêm (“phép vua thua lệ làng”) đã gây không ít khó khăn cho Nhà nước trong quá trình thực thi pháp luật.
 
Từ Đại hội VII (năm 1991) của Đảng đến nay, tình hình hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung có tiến triển theo chiều hướng tốt. Đây là giai đoạn chúng ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng về lĩnh vực kinh tế. Các tiền đề kinh tế, chính trị, tư tưởng, xã hội và quốc tế thúc đẩy sự hình thành ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn những tư tưởng, quan điểm, sự lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Xây dựng nhà nước pháp quyền là mục tiêu cần hướng tới của bất kỳ xã hội nào, vì nó đáp ứng được khát vọng tự do, dân chủ, công bằng xã hội, phúc lợi cho nhân dân, là phương thức hữu hiệu bảo đảm sự tôn trọng nhân phẩm và các quyền cơ bản của con người. Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền tuy còn mới mẻ, nhưng nó đang mở ra phương hướng mới đầy triển vọng khi xác định đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
 
Chính quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở nước ta (từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa) và đứng trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đã tạo ra những thay đổi lớn về hạ tầng cơ sở. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đã hình thành và đang phát triển. Cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng vững chắc, các thành phần kinh tế khác như kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản, tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đang từng bước khẳng định vị thế của mình trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cơ sở hạ tầng thay đổi, tất yếu dẫn đến sự thay đổi của Nhà nước và pháp luật (với tư cách là những bộ phận trọng yếu của kiến trúc thượng tầng). Nhà nước và pháp luật phải phản ánh, đại diện đầy đủ cũng như điều hoà được các lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội. Nhà nước không còn là người bảo trợ, bao cấp cho xã hội, mà chỉ là “bà đỡ”, tạo ra các điều kiện, môi trường, định hướng cho xã hội phát triển; pháp luật không chỉ là công cụ của Nhà nước để quản lý xã hội mà còn là công cụ, là chỗ dựa vững chắc của người dân để họ sống và xử sự theo pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; pháp luật phải là hiện thân của nguyên tắc: công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; cán bộ, công chức cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép. Thực tế đã đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận và xác định rõ vị trí, vài trò và chức năng của Nhà nước và pháp luật cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với hoàn cảnh mới, phải tạo ra những điều kiện, môi trường và các định chế pháp lý cần thiết cho việc bảo đảm các quyền tự do kinh doanh, quyền tự do, dân chủ của công dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
 
Tình hình quốc tế thay đổi và có những diễn biến phức tạp, đòi hỏi chúng ta phải có những đối sách thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới: một mặt, phải giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ được bản sắc và truyền thống của dân tộc trong quá trình phát triển; mặt khác, chúng ta phải biết tranh thủ, tận dụng những nhân tố mới và tinh hoa mới của thời đại. Kết hợp nhuần nhuyễn và hiệu quả giữa sức mạnh có tính quyết định của nội lực với sức mạnh của thời đại để tạo ra sức bật mới cho quá trình phát triển và hội nhập.
 
Một bước tiến lớn trong tư duy lý luận nảy sinh trong quá trình đổi mới về xây dựng Nhà nước là nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nguyên tắc này được thể chế hoá trong lần sửa đỏi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 và các luật tổ chức bộ máy nhà nước (Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân). Sự phân công, phối hợp được thể hiện ngày càng rõ nét trong các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.
 
Chúng ta đã xây dựng được nhiều đạo luật tạo khung pháp lý cho sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chế độ sở hữu và các hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của các doanh nghiệp, thương gia, quyền tự do kinh doanh và tự do hợp đồng, các cơ chế khuyến khích và bảo đảm đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội đã từng bước được xác lập. Nhìn chung, các thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã bước đầu hình thành. Các quy định mang tính hành chính, mệnh lệnh điều chỉnh các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại đang từng bước được thay thế bằng các quy định bình đẳng, ngang quyền, phù hợp với dân luật truyền thống và tập quán; chế độ nhà nước độc quyền về ngoại thương được xoá bỏ; nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm trong hoạt động kinh doanh từng bước được xác lập. Pháp luật trong lĩnh vực hành chính nhà nước đã có những đổi mới tích cực. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn của công chức, nội dung và trách nhiệm công vụ được phân định rành mạch, rõ ràng hơn; thủ tục hành chính bước đầu cải cách theo hướng đơn giản, công khai, dễ tiếp cận, dễ kiểm tra, giám sát đã đạt được những kết quả bước đầu tích cực; các dịch vụ công đang dần dần được xác lập, từng bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân và yêu cầu của cải cách hành chính. Pháp luật về lao động, viêc làm, an sinh xã hội và các lĩnh vực xã hội khác đã được quan tâm xây dựng, góp phần phát triển kinh tế đi đôi với hạn chế những tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Các chủ trương xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, đền ơn đáp nghĩa đã được thể chế hoá thành luật và pháp lệnh. Pháp luật trong lĩnh vực quốc phòng – an ninh, trật tự an toàn xã hội được tăng cường, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phòng chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ và bảo vệ môi trường được bảo đảm bằng pháp luật. Quan điểm về phát triển bền vững với sự kết hợp hài hoà phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường đang được xác lập và từng bước thể chế hoá bằng pháp luật.
 
Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập nhiều điều ước quốc tế phục vụ cho chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Vị trí, vai trò của các điều ước quốc tế trong điều chỉnh các quan hệ xã hội được nâng cao rõ rệt. Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998, Luật điều ước quốc tế (năm 2005) đánh dấu một bước phát triển quan trọng đưa việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế vào nền nếp. Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập dần dần trở thành một bộ phận không thể tách rời của hệ thống pháp luật nước nhà.
 
Công tác soạn thảo, xem xét và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dần dần đi vào nền nếp, theo đúng chuẩn mực và có những đổi mới tích cực, hiệu quả cụ thể (nhất là việc ban hành các đạo luật và pháp lệnh), theo một quy trình thống nhất do luật định, chuẩn hoá quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thông qua việc ban hành luật, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; pháp chế trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật từng bước được thiết lập; các tổ chức, công dân chịu sự tác động trực tiếp của văn bản đã tham gia đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ngày càng đông đảo và thực chất hơn. Chất lượng văn bản pháp luật về cơ bản được cải thiện. Hoạt động rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật được triển khai trên diện rộng và đang trở thành một trong những nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương. Hoạt động pháp điển hoá bước đầu được chú trọng. Một số lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội đã được điều chỉnh bằng các bộ luật, góp phần hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.
 
Luật, pháp lệnh được soạn thảo nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; mở rộng dân chủ đồng thời với tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
 
Xét về bản chất, ngọn cờ bảo vệ quyền con người thuộc về nhà nước xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh trên bảy chục năm đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc Việt Nam chính là vì quyền con người, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của cộng đồng dân tộc và của công dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói.
 
Về mặt tổ chức, trong công cuộc đổi mới, Đảng đã quyết định lập tổ chức đảng đoàn trong các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố); Ban Cán sự đảng Chính phủ; Ban Cán sự đảng Toà án Nhân dân tối cao; Ban Cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Ban Cán sự đảng bộ, ngành; Ban Cán sự đảng uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; lập Đảng uỷ (do Bộ Chính trị chỉ định) trong Quân đội và Công an.
 
Tổng kết 20 năm đổi mới, có thể thấy đó là cả một quá trình phát triển có tính liên tục, không ngừng về tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của Đảng về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Các vấn đề lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đã được vạch ra ngay từ những ngày đầu của công cuộc đổi mới và được phát triển từng bước qua những chặng đường đáng ghi nhớ của 20 năm xây dựng Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
 
Tổng kết 20 năm đổi mới có thể rút ra những bài học kinh nghiệm về xây dựng Nhà nước.
 
- Tiền đề và nền tảng tư tưởng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
 
- Bảo đảm và phát huy sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
 
- Trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn luôn xác định và quán triệt nguyên tắc nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; phải thực hiện dân chủ với nhân dân, phát huy tính sáng tạo của nhân dân; Nhà nước đặt dưới sự giám sát của nhân dân.
 
- Đề cao pháp luật kết hợp với coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội là cơ sở quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
 
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải có sự kết hợp các yếu tố dân tộc và thời đại, nội lực và ngoại lực, lấy nội lực làm chủ yếu, tiếp thu những thành tựu, tinh hoa của nhân loại đã đạt được trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền.
 (còn tiếp)
ISSTH

Lưu trữ

Sổ liên kết

Nguồn cấp tin

Viện nhân tài CHC

Đăng ký nhận tin
 
Tổng số lượt xem trang
5707415
Moonshop.vn