Kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 (1945-2015): Trả lời Thông tấn xã Việt Nam về Đại hội Quốc dân Tân Trào

Đăng bởi: AdministratorIn
 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại lễ đài Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Nguồn ảnh: anninhthudo.vn.

 

PGS, TS Đức Vượng

 

(Nhân kịp kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 (1945-2015), phóng viên Thông tấn xã Việt Nam Phí Bích Hảo đã phỏng vấn PGS, TS Đức Vượng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, nguyên chuyên viên cấp cao Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, về Đại hội Quốc dân Tân Trào).

 

Phóng viên Phí Bích Hảo: Thưa Ông, xin Ông cho biết quá trình dẫn đến Đại hội Quốc dân Tân Trào trong Cách mạng tháng Tám năm 1945?

 

PGS, TS Đức Vượng:

 

Như chúng ta đã biết, sau 30 năm cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước, nhà yêu nước và cách mạng Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã về đến Việt Nam để cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Người về đến Cao Bằng vào ngày 28-1-1941. Ngày 8-2-1941, Người đến ở hang Cốc Bó, làng Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản, Người chủ trì Hội nghị Trung ương 8 họp từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, tại khu rừng Khuổi Nậm thuộc làng Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Dự Hội nghị quan trọng này có các vị: Nguyễn Ái Quốc, Trường Chính, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên và một số vị khác. Tại Hội nghị này, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Thường vụ Trung ương gồm ba người: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt.

 

Hội nghị đánh dấu bước rẽ ngoặt của cách mạng Việt Nam từ đấu tranh giai cấp sang đấu tranh giải phóng dân tộc; dân tộc gắn với giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, dân tộc gắn với thời đại, nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Nghị quyết của Hội nghị ghi rõ nhiệm vụ cần kíp trước mắt của cách mạng Đông Dương:

 

"Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được" (Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 113).

 

Hội nghị thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh, gọi tắt nữa là Việt Minh) vào ngày bế mạc Hội nghị, ngày 19-5-1941. Hội nghị quyết định tiến hành khởi nghĩa vũ trang và dẫn đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Vì vậy, có thể nói, Cách mạng tháng Tám năm 1945 bắt nguồn từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941).

 

Ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh chính thức ra đời, kêu gọi toàn dân đánh Pháp, đuổi Nhật, cứu nước, cứu nhà. Mặt trận Việt Minh đưa ra Chương trình 10 điểm nhằm thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Đông Dương.

 

Sau Hội nghị Trung ương 8, tháng 5-1941, cách mạng Việt Nam có những chuyển biến mau lẹ. Tất cả đều chuẩn bị cho việc sửa soạn võ trang khởi nghĩa. Căn cứ địa Cao Bằng được mở rộng. Ngày 6-6-1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi đồng bào toàn quốc. Trong thư, người viết: "Trong lúc quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sâu lửa nóng". Ngày 7-5-1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị về sửa soạn khởi nghĩa. Ngày 22-12-1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và giao đồng chí Võ Nguyên Giáp thực hiện nhiệm vụ này.

 

Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, thống trị toàn cõi Đông Dương.

 

Trước tình hình khẩn cấp, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp mở rộng từ ngày 9 đến ngày 12-3-1945 ra Chỉ thị "Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Đây là bản chỉ thị rất quan trọng, kêu gọi toàn dân khởi nghĩa vì thời cơ đang đến, lợi dụng lúc Nhật lật Pháp ở Đông Dương, Đảng đã phát động toàn dân vùng lên khởi nghĩa. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, trong đó có cuộc khởi nghĩa Ba Tơ nổ ra vào ngày 10-3-1945. Phong trào "Phá kho thóc, giải quyết nạn đói" nổ ra ở nhiều nơi. Ngày 4-6-1945, Khu giải phóng được thành lập. Các chiến khu mọc lên. Các ủy ban dân tộc giải phóng của các địa phương lần lượt ra đời. Phong trào cứu nước dâng lên khắp nơi. Các xưởng sản xuất vũ khí của công nhân được thành lập.

 

Ngày 13-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh. Như vậy, từ khi Nhật lật Pháp, chiếm Đông Dương đến ngày Nhật đầu hàng Đồng Minh diễn ra đúng 5 tháng, 4 ngày.

 

Ngày 13-8-1945 Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập gồm 5 vị: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị, Chu Văn Tấn, do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp phụ trách.

 

Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ ngày 14 đến ngày 15-8-1945, tại xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Hội nghị quyết định Đảng phải kịp thời lãnh đạo và phát động toàn dân tiến hành tổng khởi nghĩa để giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân Đồng Minh tiến vào Đông Dương.

 

Phóng viên Phí Bích Hảo: Ông có thể cho độc giả biết về bối cảnh diễn ra Đại hội Quốc dân Tân Trào?

 

PGS, TS Đức Vượng:

 

Sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, diễn ra Đại hội Quốc dân Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, vào ngày 16 và 17-8-1945. Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu Bắc, Trung, Nam.

 

Đại hội nhiệt liệt tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua Lệnh khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh. Mười chính sách của Việt Minh được thảo luận và quán triệt tại Đại hội Quốc dân Tân Trào: giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập; vũ trang nhân dân, phát triển quân giải phóng Việt Nam; tịch thu tài sản của giặc nước và của việt gian để sung công hoặc chia cho dân nghèo; bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra, đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ; ban bố những quyền dân chủ cho dân (nhân quyền, tài quyền, dân quyền), cụ thể là quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền; chia lại ruộng đất cho nông dân, bảo đảm công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân; ban bố luật lao động, ngày làm 8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm; xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp, mở quốc gia ngân hàng; xây dựng nền quốc dân giáo dục, chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục, kiến thiết nền văn hóa mới; thân thiện và giao hảo với các nước Đồng Minh và các nước dân tộc nhược tiểu để giành lấy sự đồng tình và ủng hộ của họ.

 

Đại hội quy định Quốc kỳ là cờ đỏ, giữa có sao vàng năm cánh. Quốc thiều là bài Tiến quân ca và cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ban Thường trực của Ủy ban Dân tộc giải phóng gồm 5 người: Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền.

 

Cùng với Hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội Quốc dân Tân trào mang ý nghĩa lịch sử, thể hiện đoàn kết, quyết tâm giành độc lập của nhân dân Việt Nam.

 

Phóng viên Phí Bích Hảo: Sau Đại hội Quốc dân Tân Trào, những diễn biến của cách mạng Việt Nam xảy ra như thế nào thưa Ông ?

 

PGS, TS Đức Vượng:

 

Sau Đại hội Quốc dân Tân Trào, khí thế cách mạng dâng lên trong cả nước. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở khắp các địa phương. Ngày 19-8-1945, Hà Nội khởi nghĩa. Ngày 23-8-1945, Huế khởi nghĩa. Ngày 25-8-1945, Sài Gòn khởi nghĩa,... Tổng cộng 28 tỉnh, thành trong cả nước đã nổ ra khởi nghĩa.

 

Ngày 2-9-1945, tại Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), mở ra kỷ nguyên mới cho dân dộc Việt Nam, kỳ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

 

Sau khi đất nước giành được độc lập, thì thù trong giặc ngoài xông vào xâu xé. Quân Tàu Tưởng núp dưới danh nghĩa quân Đồng Minh tràn vào nước ta từ phía Bắc, giết người, cướp của của nhân dân ta, gây ra những tội ác man rợ. Phía Nam thì quân Anh lấn tới, cố vực quân Pháp dậy để cho quân Pháp cướp nước ta một lần nữa. Trước tình hình đó, cả dân tộc theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lên đường tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra suốt 30 năm ròng. Cuối cùng, nhân dân ta đã ghi được dòng chữ vàng "Độc lập Tự do" lên lá cờ đại nghĩa của mình vào năm 1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Đất nước thống nhất.

 

Phóng viên Phí Bích Hảo: Cuối cùng, xin Ông cho biết ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám?

 

PGS,TS Đức Vượng:

 

Cách mạng tháng Tám là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, là cuộc chiến tranh cách mạng, được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là cuộc cách mạng mang tầm vóc thời đại, được tiến hành với sức mạnh toàn dân tộc. Ý chí, nghị lực, tinh thần Việt Nam đã làm nên chiến thắng, đã biến Việt Nam từ yếu sang mạnh và biến kẻ xâm lược từ mạnh sang yếu. Cách mạng tháng Tám là kết quả của 15 năm đấu tranh để giành độc lập, tự do của nhân dân ta kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào đầu năm 1930. Trong 15 năm ấy, cách mạng Việt Nam đã trải qua ba cuộc diễn tập. Đó là cao trào cách mạng 1930-1931; cuộc vận động dân chủ 1936-1939; cao trào vận động giải phóng dân tộc 1941-1945.

 

Đất nước Việt Nam đã có quá nhiều kẻ xâm lược từ phương Bắc, phương Tây đến. Họ luôn luôn rình rập, cậy người đông, vũ khí hiện đại, tưởng quật ngã một dân tộc mà họ cho là yếu đuối. Họ đã không hiểu nổi con người Việt Nam, trí tuệ Việt Nam, bản lĩnh Việt Nam, cho nên họ đã thua đậm, và cuối cùng, chiến tranh cách mạng đã thắng và chiến tranh xâm lược đã thua.

 

 

Lưu trữ

Sổ liên kết

Nguồn cấp tin

Viện nhân tài CHC

Đăng ký nhận tin
 
Tổng số lượt xem trang
3133447
Quạt trần cao cấp chính hãng, quạt trần trang trí động cơ mạnh mẽ, mẫu mã đẹp‎, tổng kho quạt trần